CẤP CỨU (24/24):
02053.898.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

PHÒNG BỆNH KHI THỜI TIẾT RÉT ĐẬM, RÉT HẠI

Theo Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, miền Bắc đang bước vào đợt rét nhất kể từ đầu mùa đông. Ở nhiều vùng núi đã xuất hiện băng giá. Nhiệt độ xuống thấp sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, do vậy người dân cần biết cách giữ ấm và phòng chống rét cho bản thân và gia đình. Người già và trẻ em là những đối tượng có khả năng mắc các bệnh lý như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não, xương khớp... Nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới viêm phổi, suy hô hấp, đột quỵ, ảnh hưởng đến tính mạng. Để phòng ngừa mắc bệnh khi thời tiết thay đổi, người dân chú ý mặc đủ ấm, tránh những vị trí gió lùa,... Đối với người cao tuổi, tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột như từ trong nhà ấm - ra ngoài lạnh, tránh ra ngoài trời lạnh. Việc thay đổi nhiệt độ đột ngột sẽ gây thay đổi về huyết áp có nguy cơ bị tai biến mạch máu não. Đối với trẻ nhỏ, cần chú ý mặc quần áo đủ ấm bởi nếu cho trẻ mặc quá nhiều quần áo trẻ sẽ toát mồ hôi dẫn tới ướt quần áo, hơi ẩm sẽ thấm ngược lại cơ thể trẻ gây ra nguy cơ viêm phổi. Do đó, nên lưu ý giữ nhiệt độ chung trong phòng cho đủ ấm và mặc quần áo vừa phải. Thường xuyên kiểm tra xem trẻ có bị toát mồ hôi không, nếu trẻ bị ướt áo thì phải thay áo, tránh để trẻ mặc áo ướt. Những người đặc thù phải làm việc ở ngoài trời chống chọi với rét đậm, rét hại cần mặc nhiều quần áo, hạn chế để da tiếp xúc với môi trường lạnh. Về chế độ ăn, để tăng sức đề kháng của cơ thể cần ăn uống đầy đủ dinh dưỡng, tăng cường rau xanh, trái cây đảm bảo đủ nhiệt cho cơ thể. Các gia vị như hành, tỏi, gừng, quế... giúp giữ ấm rất tốt, còn giúp cơ thể giải cảm, ấm bụng, kích thích tiêu hóa. Nên ăn, uống nóng, hạn chế ăn các đồ ăn lạnh. Tránh uống rượu trước khi ra ngoài trời lạnh, bởi rượu làm nở các mạch máu gây giảm thân nhiệt nên khi ra trời lạnh sẽ rất nguy hiểm. [[{"fid":"3246","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 371px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Không sưởi ấm bằng than trong phòng kín. Tuyệt đối không tắm khuya, hoặc tắm quá lâu, tắm nơi không kín gió vì dễ bị thay đổi nhiệt độ đột ngột, có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe. Các gia đình dùng đèn sưởi, điều hòa nhiệt độ để làm ấm cũng cần chú ý nhiệt độ phù hợp, không để quá nóng. Đối với trẻ sơ sinh, nếu nhiệt độ phòng quá cao hoặc để trẻ quá gần đèn sưởi sẽ có nguy cơ bỏng da. Lưu ý, không nên sưởi ấm phòng bằng bếp than tổ ong hoặc củi trong phòng kín sẽ dẫn tới nguy cơ phát sinh khí cacbonic, giảm khí ôxy. Nếu để thời gian dài sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, thậm chí dẫn tới hiện tượng hôn mê, tổn thương não, chết ngạt.   Theo Sức khỏe và đời sống

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ KHÁM THAI ĐỊNH KỲ

Làm mẹ là niềm hạnh phúc vô bờ bến của bất cứ người phụ nữ nào trên thế giới và mang thai là quãng thời gian thật đẹp để các bà mẹ nhận thấy sự kết nối kỳ diệu của cơ thể mình với sinh linh bé bỏng mà cả gia đình mong chờ với tất cả yêu thương, hy vọng. Để có một thai kỳ khỏe mạnh và an toàn, cũng như cho thiên thần của bạn một khởi đầu tốt nhất, các bà mẹ tương lai cần phải khám theo dõi thường xuyên trong suốt thai kỳ để ngăn ngừa và xử lý đúng cách những biến chứng có thể xảy ra. Đến với Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (BVĐK), các bác sĩ và nhân viên y tế sẽ tư vấn, hướng dẫn cho bạn theo dõi thai kỳ toàn diện để chăm sóc một cách tốt nhất cho thai phụ và thai nhi. Ngay khi bắt đầu thai kỳ, thai phụ có thể đến khám thai tại BVĐK hoặc có thể đến khám tại các cơ sở y tế khác, sau đó mới đến Bệnh viện, không lúc nào là muộn.  Tại BVĐK, thai phụ sẽ được các bác sĩ và nhân viên y tế chăm sóc chu đáo tận tình, được tư vấn thực hiện đầy đủ các xét nghiệm, sàng lọc. Với những thai kỳ bình thường, thai phụ nên đi khám thai 8 lần (từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 36). Tuy nhiên cũng tùy vào từng thai phụ các bác sĩ sẽ hẹn khám theo lịch cụ thể. [[{"fid":"3240","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Vì sao thai phụ phải khám thai định kỳ? Khám thai định kỳ rất cần thiết và quan trọng trong suốt thai kỳ của bạn. Khám thai định kỳ sẽ mang lại những lợi ích sau:  - Giúp mẹ bầu nắm rõ sự phát triển của thai nhi thông qua các lần khám thai. - Được bác sĩ sản khoa tư vấn về nhiều vấn đề thường gặp trong thai kỳ như chế độ dinh dưỡng hoặc một số điều cần tránh khi mang thai để đảm bảo một thai kỳ khỏe mạnh. - Một số xét nghiệm chỉ có thể chính xác ở một khoảng thời gian nhất định của thai kỳ, chính vì thế, thai phụ nên đi khám đúng theo lịch hẹn của bác sĩ.  Lịch khám thai đầy đủ trong suốt thai kỳ: * Trong 3 tháng đầu tiên của thai kỳ, mẹ bầu sẽ trải qua 3 lần khám: Lần khám đầu tiên Khi thai nhi đạt từ 5 đến 8 tuần tuổi, thai phụ nên đi khám thai để chắc chắn có thai hay không và vị trí làm tổ của thai có an toàn hay không. Ở lần khám này, mẹ sẽ được thực hiện một số xét nghiệm như đo huyết áp, chiều cao cân nặng, xét nghiệm nước tiểu, siêu âm để xác định tuổi thai, xét nghiệm máu cơ bản, chức năng gan, thận, tuyến giáp; khai thác tiền sử thai nghén cũng như các bệnh nội, ngoại khoa và di truyền trong gia đình. Lời khuyên: Ở thời kỳ này mẹ cần được bổ sung axit folic và DHA để ngăn ngừa dị tật bẩm sinh cho thai nhi và chú ý đến chế độ dinh dưỡng cũng như yếu tố an toàn vệ sinh thực phẩm. Thai phụ cũng nên nghỉ ngơi, không nên làm việc quá sức. Quan trọng hơn nên lắng nghe tư vấn sàng lọc trước sinh và báo ngay với bác sĩ về tiền sử bệnh liên quan đến thai nhi. Lần khám thứ 2 Thời gian khám là thời điểm thai nhi được 8 đến 11 tuần tuổi. Thai phụ sẽ đc chỉ định siêu âm thai, xác định tuổi thai, số lượng thai. Lần khám này sẽ giúp bác sĩ kiểm tra một cách toàn diện hơn về sức khỏe của thai nhi như là yếu tố tim thai, một số vấn đề về phôi thai,… Những xét nghiệm cần thực hiện về cơ bản sẽ giống lần khám đầu tiên. Thai phụ có thể làm xét nghiệm sàng lọc NIPT (xét nghiệm trước sinh không xâm lấn giúp phát hiện sớm bất thường về di truyền ở thai nhi) và nguy cơ tiền sản giật. Đây là thời điểm siêu âm đưa ra ngày dự kiến sinh tốt nhất. Lần khám thai thứ 3 Nên khám tại thời điểm 11 tuần 6 ngày đến 13 tuần 6 ngày. Đây là thời điểm quan trọng để siêu âm khảo sát dị tật sớm cho thai nhi..., làm các xét nghiệm sàng lọc di truyền bước đầu đối với từng thai phụ: xét nghiệm Thalassemia, Double test, đo nhịp tim, siêu âm kiểm tra dị dạng chi, siêu âm đo độ mờ da gáy để xác định nguy cơ bị Down của thai nhi. Đây là thời điểm mà các mẹ bầu nên nhớ để đi khám định kỳ * Lịch khám thai trong 3 tháng thứ hai của thai kỳ Lần khám thai thứ 4: từ 15 - 18 tuần: Lần khám này với mục đích kiểm tra nguy cơ dị tật bẩm sinh của thai và sự phát triển của thai nhi. Siêu âm thai, xét nghiệm Triple test sàng lọc rối loạn NIPT liên quan đến dị tật ống thần kinh. Sàng lọc này sẽ được làm đối với thai phụ không được làm Double test trong lần khám thứ 3, hoặc làm xét nghiệm NIPT, chọc ối nếu có chỉ định của bác sĩ. Lần khám thai thứ 5: từ 20 đến 22 tuần. Mục đích khám thai là tiếp tục kiểm tra sự phát triển của thai nhi và những dị tật bẩm sinh một cách chính xác hơn. Một số xét nghiệm cần thực hiện là siêu âm thai 4D phát hiện các dị tật bất thường về tim thai, hệ thống não thất,... xét nghiệm nước tiểu, cân đo huyết áp, sàng lọc tiền sản giật. Trong trường hợp phát hiện thai nhi có dấu hiệu bất thường, bác sĩ có thể chỉ định chuyển tuyến trên để chọc ối. Lần khám thai thứ 6: từ 24 - 28 tuần, siêu âm thai, xét nghiệm tiểu đường thai kỳ, xét nghiệm nước tiểu, cân đo huyết áp, làm nghiệm pháp đường huyết sàng lọc tiểu đường thai kỳ, tiêm phòng UV. Khi thai nhi được 20 đến 24 tuần tuổi. Lần khám này giúp các bác sĩ kiểm tra hình thái của thai nhi và kiểm tra về tim thai, chân tay, cột sống,… của thai và vị trí bám của nhau thai cũng như xác định lượng nước ối ra sao.  * Lịch khám thai trong 3 tháng cuối của thai kỳ Lần khám thai thứ 7: Khi thai nhi được 28 đến 32 tuần tuổi. Lần này, mục đích khám là kiểm tra ngôi thai và kiểm tra sự phát triển của thai đồng thời tiêm phòng uốn ván, tiêm Anti D đối với các thai phụ có nhóm máu Rh âm, kiểm tra cổ tử cung để nhận biết dấu hiệu sắp sinh của thai phụ. Bên cạnh đó là xét nghiệm Non - stress để kiểm tra xem thai nhi có nhận đủ oxy hay không. Siêu âm hình thái lần cuối xem các dị tật có thể có như thoát vị hoành, cấu trúc tim, tình trạng của bánh rau và ối. Lần khám thai thứ 8: Khám thai ở tuần thứ 36, thai phụ lưu ý trước đi khám lần này cần nhịn ăn để làm các xét nghiệm chuẩn bị cho cuộc đẻ: xét nghiệm máu, siêu âm, CTG (chạy máy đo cơn co TC). Các lần khám tiếp theo cho đến lúc chuyển dạ, thai phụ nên đến khám theo lịch hẹn của bác sĩ. Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Lạng Sơn luôn mong muốn mang đến cho các bà mẹ những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất. Với đội ngũ bác sĩ sản khoa có chuyên môn cao, thai phụ có thể hoàn toàn yên tâm khi sử dụng dịch vụ thăm khám thai kỳ tại Bệnh viện.                                                                               Bác sĩ CKI: Phạm Thanh Huyền

NGUYÊN NHÂN, DẤU HIỆU NHẬN BIẾT VÀ CÁCH XỬ TRÍ ĐỘT QUỴ

Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 200.000 trường hợp đột quỵ, cao hơn nhiều lần so với một số nguyên nhân tử vong phổ biến khác. Đột quỵ để lại nhiều hậu quả nặng nề cho bản thân người bệnh, trở thành gánh nặng về kinh tế cho gia đình và xã hội. Đột quỵ có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào, dù là đang làm việc gắng sức hay nghỉ ngơi. Do vậy, người bệnh đột quỵ cần được cấp cứu càng sớm càng tốt, nhất là trong “thời gian vàng” (3 – 6 giờ đầu khi có dấu hiệu bệnh). Đột quỵ hay còn được gọi là tai biến mạch máu não. Đây là tình trạng não bộ bị tổn thương nghiêm trọng do mạch máu não bị tắc nghẽn, bị vỡ, gây gián đoạn việc vận chuyển máu để nuôi dưỡng não bộ. Khiến các tế bào thiếu hụt dinh dưỡng, oxy; các tế bào sẽ chết đi sau vài phút nếu vấn đề thiếu hụt này không được khắc phục. [[{"fid":"3197","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"style":"width: 500px; height: 346px;","class":"media-element file-default"}}]] Có 2 loại đột quỵ là đột quỵ do thiếu máu và đột quỵ do xuất huyết: - Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: Chiếm khoảng 85% tổng số các ca bị đột quỵ hiện nay. Đây là tình trạng đột quỵ do các cục máu đông làm tắc nghẽn động mạch, cản trở quá trình máu lưu thông lên não. - Đột quỵ do xuất huyết: Đột quỵ do xuất huyết là tình trạng mạch máu đến não bị vỡ khiến máu chảy ồ ạt gây xuất huyết não. Nguyên nhân khiến mạch máu vỡ là do thành động mạch mỏng yếu hoặc xuất hiện các vết nứt, rò rỉ. Nguyên nhân gây đột quỵ - Tuổi tác: Bất cứ ai cũng có nguy cơ bị đột quỵ. Tuy nhiên, người già có nguy cơ đột quỵ cao hơn người trẻ. Kể từ sau tuổi 55, cứ mỗi 10 năm, nguy cơ bị đột quỵ lại tăng lên gấp đôi. - Giới tính: Nam giới có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn nữ giới - Tiền sử gia đình: Người có người thân trong gia đình từng bị đột quỵ có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn người bình thường. - Tiền sử đột quỵ: Người có tiền sử bị đột quỵ có nguy cơ cao bị đột quỵ lần tiếp theo, nhất là trong vòng vài tháng đầu. Nguy cơ này kéo dài khoảng 5 năm và giảm dần theo thời gian. - Đái tháo đường: Các vấn đề liên quan đến đái tháo đường có khả năng làm tăng nguy cơ đột quỵ. - Bệnh tim mạch: Người mắc các bệnh lý tim mạch có khả năng bị đột quỵ cao hơn người bình thường - Cao huyết áp: Cao huyết áp gây gia tăng sức ép lên thành động mạch, lâu dần khiến thành động mạch bị tổn thương dẫn đến xuất huyết não. Ngoài ra, cao huyết áp còn tạo điều kiện cho các cục máu đông hình thành, cản trở quá trình lưu thông máu lên não. - Mỡ máu: Cholesterol cao có thể tích tụ trên thành động mạch, tạo thành vật cản gây tắc nghẽn mạch máu não. - Thừa cân, béo phì: Người bị thừa cân béo phì có thể dẫn đến nhiều bệnh như cao huyết áp, mỡ máu, tim mạch,làm tăng nguy cơ bị đột quỵ. - Hút thuốc: Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, người hút thuốc có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 2 lần. Khói thuốc làm tổn thương thành mạch máu, gia tăng quá trình xơ cứng động mạch. Thuốc lá cũng gây hại cho phổi, khiến tim làm việc nhiều hơn, gây tăng huyết áp. - Lối sống không lành mạnh: ăn uống không điều độ, không cần bằng đầy đủ các loại dưỡng chất; lười vận động là một trong những nguyên nhân dẫn đến đột quỵ. Ngoài ra, đột quỵ cũng được cho là có liên quan đến việc sử dụng các chất kích thích, uống quá nhiều rượu... Hậu quả của đột quỵ Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trên thế giới, với con số khoảng 6,5 triệu người tử vong mỗi năm; tức trung bình mỗi 6 giây có một ca tử vong do đột quỵ. Đột quỵ còn là nguyên nhân gây tàn phế hàng đầu trên thế giới, có hơn 17 triệu ca bệnh mỗi năm. Trung bình 6 người có một người bị đột quỵ, nếu như không có biện pháp phòng tránh kịp thời. Tại Việt Nam, mỗi năm nước ta có khoảng 200.000 trường hợp đột quỵ, là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, có tỷ lệ từ 10-20%, cao hơn nhiều lần so với một số nguyên nhân tử vong phổ biến khác. Trong các trường hợp bệnh nhân sống sót sau đột quỵ thì khả năng tàn phế, lệ thuộc cao. 10-13% bệnh nhân tàn phế, nằm liệt giường; 12% hồi phục một phần; 25% bệnh nhân có thể độc lập đi lại. Đột quỵ gây nhiều hậu quả nặng nề về chi phí điều trị. Sau đột quỵ, bệnh nhân thường khó hòa nhập trở lại với cuộc sống bình thường, gây nhiều ảnh hưởng về kinh tế, chi phí thuốc, điều trị, hồi phục… Với người nhà bệnh nhân, đột quỵ tạo gánh nặng kinh tế trực tiếp, thông qua việc mất sức lao động. Ảnh hưởng kinh tế gián tiếp thông qua việc chăm sóc, điều trị cũng như những áp lực về mặt tinh thần. Dấu hiệu nhận biết đột quỵ: Các dấu hiệu đột quỵ có thể xuất hiện và biến mất rất nhanh, lặp đi lặp lại nhiều lần, bao gồm: - Cơ thể mệt mỏi, đột nhiên cảm thấy không còn sức lực, tê cứng mặt hoặc một nửa mặt, nụ cười bị méo mó. - Cử động khó hoặc không thể cử động chân tay, tê liệt một bên cơ thể. Dấu hiệu đột quỵ chính xác nhất là không thể nâng hai cánh tay qua đầu cùng một lúc. - Khó phát âm, nói không rõ chữ, bị dính chữ, nói ngọng bất thường. Bạn có thể thực hiện phép thử bằng cách nói những câu đơn giản và yêu cầu người bệnh nhắc lại, nếu không thể nhắc lại được thì người bệnh đó đang có những dấu hiệu đột quỵ. - Hoa mắt, chóng mặt, người mất thăng bằng đột ngột, không phối hợp được các hoạt động. - Thị lực giảm, mắt mờ, không nhìn rõ. - Đau đầu dữ dội, cơn đau đầu đến rất nhanh, có thể gây buồn nôn hoặc nôn. Khi người bệnh có các dấu hiệu này, nên nghĩ ngay đến đột quỵ. Cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đi cấp cứu, để không bỏ lỡ “thời gian vàng” trong điều trị. Cấp cứu đột quỵ như thế nào? Khi phát hiện người có các dấu hiệu đột quỵ, cần xử trí đúng cách: - Đỡ người bệnh để không bị té ngã gây chấn thương. - Để người bệnh nằm xuống chỗ thoáng, nghiêng qua một bên nếu nôn ói. Móc hết đờm, nhớt để bệnh nhân dễ thở. - Không tự ý cho uống thuốc hạ huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào khác. - Đưa người bệnh đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt.

ĐỐI PHÓ HIỆU QUẢ BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh hô hấp phổ biến có thể phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi các triệu chứng hô hấp dai dẳng và giới hạn luồng khí, là hậu quả của phản ứng viêm bất thường của đường thở và/hoặc phế nang do phơi nhiễm với các hạt hoặc khí độc hại. Các bệnh đồng mắc và các đợt kịch phát làm nặng thêm tình trạng bệnh. Nguyên nhân do đâu? Thống kê của WHO cho thấy, mỗi năm toàn cầu có hơn 300 triệu người được phát hiện mắc COPD. Ở Việt Nam, theo những kết quả trong nghiên cứu dịch tễ học, tỷ lệ mắc COPD là 4,1% ở người trên 40 tuổi và có xu hướng tiếp tục tăng cao do tình trạng hút thuốc lá, thuốc lào và ô nhiễm môi trường gia tăng. Những yếu tố nguy cơ gây COPD có thể kể đến như hút thuốc lá, thuốc lào, hít phải khói thuốc lâu dài (80 - 90% nguyên nhân gây bệnh); ô nhiễm môi trường ngoài trời; ô nhiễm môi trường không khí trong nhà như hít phải khí đốt nhiên liệu, bụi nghề nghiệp, hóa chất hoặc nhiễm trùng đường hô hấp thường xuyên như bệnh viêm phổi, viêm phế quản... Dấu hiệu nhận biết Ho, khạc đờm kéo dài là triệu chứng thường gặp. Ho lúc đầu có thể là ngắt quãng, về sau ho dai dẳng hoặc ho hàng ngày, ho khan hoặc ho có đờm, thường về buổi sáng. Ho đờm mủ là một trong các dấu hiệu của đợt cấp do bội nhiễm. Khó thở tiến triển nặng dần theo thời gian, lúc đầu là khó thở khi gắng sức, sau khó thở cả khi nghỉ ngơi và khó thở liên tục. Bệnh nhân phải gắng sức để thở, cảm giác thiếu không khí, hụt hơi, nặng ngực hoặc thở hổn hển, thở khò khè. Ở giai đoạn muộn của bệnh có thể thấy lồng ngực có dạng hình thùng, tần số thở tăng, bệnh nhân thở ra phải mím môi lại, co rút các cơ hô hấp ở cổ như rút lõm hố trên ức, trên đòn, các khe gian sườn bị rút lõm. [[{"fid":"3194","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 313px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Đo chức năng hô hấp Cần phải làm gì? Do nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do thuốc lá, nên bỏ thuốc lá và không sống trong môi trường có khói thuốc lá, là nguyên tắc hàng đầu trong điều trị. Việc bỏ thuốc lá trong nhiều trường hợp là khó khó khăn đối với người bệnh. Việc này đòi hỏi sự hợp tác tích cực giữa thầy thuốc, gia đình và cộng đồng, để tạo điều kiện và khuyến khích người bệnh bỏ thuốc lá. Rất ít trường hợp cần phải sử dụng thuốc để cai nghiện. Điều trị bệnh bao gồm cả điều trị bằng thuốc và không bằng thuốc. Vì đây là bệnh mạn tính với hiện tượng phá hủy cấu trúc phổi không hồi phục nên điều trị thông thường là phải kéo dài suốt đời. Ngoài việc ngưng tiếp xúc với khói thuốc, người bệnh và gia đình cần thực hiện các nguyên tắc sau: Dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ và tiêm vắc-xin cúm hàng năm nếu có điều kiện. Đi kiểm tra bệnh ít nhất 2 lần/năm. Nếu triệu chứng nặng lên, cần thực hiện theo kế hoạch hành động mà bác sĩ hướng dẫn và đi khám cấp cứu. Tạo nơi sinh hoạt của người bệnh thoáng đãng (thông gió tốt) sạch sẽ, không bụi khói. Vận động, thể dục tùy theo tình trạng sức khỏe cho phép với nguyên tắc: nhẹ nhàng, đều đặn, kết hợp với tập thở hiệu quả. Ăn thức ăn giàu dinh dưỡng, vitamin, uống nhiều nước. Tạo điều kiện thuận lợi nhất trong sinh hoạt cho người bệnh, nhất là khi ở giai đoạn nặng. Khi nào cần phải nhập viện? Khi các triệu chứng bệnh trở nên nặng hơn thường ngày (ví dụ khạc đờm nhiều lên, đờm chuyển màu vàng hay đục, khó thở tăng) mặc dù đã phải tăng sử dụng thuốc hàng ngày mà không giảm. Trong trường hợp này, bệnh nhân nên đến các cơ sở y tế đã khám và tốt nhất là có quản lý bệnh để hỏi ý  kiến điều trị. Nếu cần, bác sĩ sẽ yêu cầu nhập viện. Thông thường chỉ những trường hợp nặng hoặc có biến chứng thì mới cần nhập viện. Các trường hợp còn lại có thể điều trị theo hướng dẫn tại nhà trong khoảng 5-7 ngày. Lời khuyên của thầy thuốc Để phòng ngừa bệnh COPD, nam giới không hút thuốc lá, thuốc lào, còn trẻ em, phụ nữ nên tránh bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp với khói thuốc. Riêng với người cao tuổi đã mắc bệnh COPD, để phòng ngừa bệnh tái phát, giảm nguy cơ biến chứng nên hạn chế đến mức thấp nhất việc tiếp xúc với khói thuốc, các hóa chất, khói bụi độc hại. Ngoài ra, mỗi người nên tạo cho mình thói quen tập thể dục đều đặn hằng ngày, nhất là hít thở không khí trong lành trước và sau khi ngủ dậy. Còn với người bệnh COPD, nên duy trì luyện tập các bộ môn thể thao như đạp xe, đi bộ... ở mức độ trung bình từ 30-60 phút/ngày, tùy theo khả năng. Với bệnh nhân nặng có thể giảm thời gian luyện tập, hoặc tập thở bằng cách hít sâu và thở mạnh ra hết sức...   Theo Sức khỏe và đời sống

MÙA LẠNH NÊN PHÒNG BỆNH NHƯ THẾ NÀO?

Mùa lạnh, người cao tuổi cần tìm mọi cách để không bị nhiễm lạnh và áp dụng các biện pháp phòng bệnh đơn giản nhất, dễ thực hiện nhất. Mùa lạnh, người cao tuổi (NCT) dễ mắc một số bệnh (bệnh hô hấp, xương khớp, tim mạch, tiêu hóa...). Vì vậy, NCT cần tìm mọi cách để không bị nhiễm lạnh và áp dụng các biện pháp phòng bệnh đơn giản nhất, dễ thực hiện nhất. Một số bệnh thường gặp khi mùa lạnh đến Thời tiết thay đổi, đặc biệt là những ngày giá lạnh, nhiệt độ xuống thấp dưới 150C, đặc biệt là ngày xuống dưới 100C, NCT có một số bệnh sẽ xuất hiện hoặc tái phát nhất là người sức yếu. Những ngày gần đây thời tiết ở nước ta luôn thay đổi, ở một số tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều ngày đã có băng tuyết; ở một số tỉnh phía Nam, nhất là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long về đêm nhiệt độ cũng đã giảm xuống dưới mức bình thường. Nhiệt độ giảm, đặc biệt là lạnh, nếu không đủ ấm, một số NCT sẽ xuất hiện hoặc tái phát các bệnh về đường hô hấp (viêm họng, mũi, viêm xoang, viêm phế quản, giãn phế quản, khí phế thũng), đặc biệt là bệnh hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính. Nhiệt độ càng giảm, thời tiết càng lạnh thì bệnh hen suyễn càng nặng, đặc biệt là những người tuổi cao, sức khỏe giảm sút thêm vào đó là ăn uống không đảm bảo, mặc không đủ ấm. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (CODP) khi giá rét cũng sẽ rất dễ tái phát và tăng nặng. Cả 2 loại bệnh hen suyễn và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là mối đe dọa đến tính mạng người bệnh mỗi khi đông đến, mưa nhiều, rét đậm. Một điều cần lưu ý là khi bị viêm phế quản, viêm phổi cấp tính, NCT sức yếu thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ. Bệnh viêm mũi, họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa đông, giá lạnh, NCT hay gặp nhất, các biểu hiện như: hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng, ho, tức ngực, có khi gây khó thở. Mùa đông giá rét, một số người nghiện thuốc lá, thuốc lào thường hút tăng lên cho đỡ rét thì bệnh lại càng tăng nặng. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm. Thêm vào đó môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng, cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho NCT dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa đông lạnh giá. Một số bệnh về tim mạch ở NCT cũng sẽ gia tăng mỗi khi mùa đông đến, trong đó cần đặc biệt lưu ý bệnh tăng huyết áp kịch phát mỗi khi lạnh đột ngột do mặc không đủ ấm, phòng ngủ không kín gió, chăn, đệm không đủ chống rét, tắm nước lạnh. Bệnh đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não cũng luôn rình rập NCT mỗi khi giá rét, mưa nhiều. Mùa đông đến cũng làm cho các bệnh về xương khớp ở NCT gia tăng hoặc tái phát như: thoái hóa, đau và xơ cứng khớp gối, khớp bàn tay, cổ tay, khớp cột sống thắt lưng. Thoái hóa khớp và cứng khớp vào mùa đông giá rét làm cho người bệnh khó vận động, đau nhức, giấc ngủ không yên, vì vậy sẽ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Một số bệnh về đường tiêu hóa như: bệnh dạ dày, viêm đại tràng mãn tính, viêm đại tràng co thắt (hội chứng ruột kích thích) cũng là những bệnh khi giá lạnh thì xuất hiện hoặc tái phát làm ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe NCT. [[{"fid":"3192","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 307px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Những người cao tuổi đã có bệnh về đường hô hấp mãn tính nên đi khám bệnh định kỳ. Phòng bệnh như thế nào? Trong những ngày giá rét, nhất là các tỉnh phía Bắc nước ta, thời tiết lạnh, có khi nhiệt độ xuống thấp dưới 100C, đó là những lý do làm cho người cao tuổi mắc phải một số bệnh phải nhập viện. Hầu hết bệnh nhân NCT vào viện trong tình trạng bệnh nặng, phải cấp cứu do sức đề kháng và tính chịu đựng với lạnh kém. Vì vậy, để phòng bệnh thì NCT trong mùa lạnh, cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa, nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm. Nếu cần thiết phải ra khỏi nhà thì phải mặc quần áo ấm, đi tất, găng tay, cổ quàng khăn ấm, đeo khẩu trang và nên đội mũ len. NCT có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà, không nên ra khỏi nhà khi thời tiết còn lạnh giá. Khi thời tiết lạnh quá, ở trong phòng có thể được sưởi ấm tùy thuộc vào điều kiện của từng người, nhưng hết sức thận trọng với bếp than củi, than đá vì rất nhiều khí độc thải ra, do đó phải sưởi trong phòng thông gió tốt, tránh ứ đọng khói, khí độc. Với gia đình có điều kiện thì nên sưởi bằng lò sưởi, quạt sưởi điện. Sưởi ấm bằng hình thức nào cũng phải đề phòng bỏng, cần lưu ý với NCT có rối loạn về nhận thức và hành vi. Thời tiết lạnh giá nhưng NCT cũng có thể tắm, rửa bằng nước ấm trong buồng tắm kín gió; tắm xong phải lau khô người và nhanh chóng mặc quần áo thật ấm. Những trường hợp có bệnh về tim mạch, tăng huyết áp, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen suyễn, bệnh xương khớp, những ngày nhiệt độ giảm xuống thấp nên hạn chế tắm, chỉ nên lau người và rửa tay, chân bằng nước ấm. Cần vệ sinh họng, miệng hằng ngày bằng cách đánh răng đều đặn sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy, súc họng bằng nước muối nhạt, tốt nhất là dùng loại nước muối sinh lý có bán sẵn ở các quầy dược phẩm. Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật. Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những người cao tuổi đã bị các bệnh đường hô hấp mãn tính Cần ăn, uống đủ lượng và chất, tránh bỏ bữa. Thức ăn, nước uống cần nóng và tránh dùng các loại có tính chất kích thích như: rượu, bia, cà phê.   Theo Sức khỏe và đời sống  

5 BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ KHI TRỞ LẠNH

Sang tháng 11, dù thời tiết chưa hoàn toàn lạnh suốt cả ngày, nhưng nhiệt độ ban đêm và sáng sớm đã hạ thấp. Nhiều người đi làm vào sáng sớm hoặc tập thể dục đã phải mặc áo ấm. Nếu là người có bệnh tim mạch, cần cảnh giác với nguy cơ đột quỵ. Vì sao nhiệt độ lạnh lại nguy hiểm đối với tim và não? Khi ở trong môi trường lạnh, cơ thể chúng ta có những điều chỉnh sinh lý nhất định để duy trì ổn định nhiệt độ cơ thể. Những điều chỉnh bình thường này có thể là một thách thức đối với những người bị bệnh tim mạch hay đột quỵ. Nhiệt độ lạnh có thể khiến cho: Nhịp tim tăng lên, làm tăng huyết áp, bắt trái tim của bạn làm việc cật lực hơn đáng kể. Nhiệt độ thấp cũng làm tăng khuynh hướng đông máu trong lòng mạch. Hậu quả tai hại của thời tiết lạnh lên bệnh tim mạch và đột quỵ Đối với những người đang bị bệnh mạch vành, nhiệt độ thấp có thể gây ra các đợt thiếu máu cục bộ ở tim do cơ tim bị thiếu oxy, gây các cơn đau thắt ngực hoặc thậm chí cơn đau tim cấp. Đối với những người bị suy tim, nhiệt độ môi trường giảm nhanh chóng có thể làm các triệu chứng đang tạm ổn lại đột ngột xấu đi, tăng nguy cơ nhập viện và thậm chí tăng nguy cơ tử vong. Đối với những người bị tăng huyết áp, nhiệt độ môi trường giảm nhanh chóng có thể làm huyết áp tăng lên, dễ gây ra các biến chứng tim mạch và hình thành đột quỵ. [[{"fid":"3161","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1297","width":"1994","style":"width: 500px; height: 325px;","class":"media-element file-default"}}]] Thời tiết giao mùa nóng lạnh thất thường, người cao tuổi, người bệnh tim mạch cần cảnh giác nguy cơ đột quỵ (Ảnh minh họa) Cách dự phòng thời tiết lạnh cho những người bị bệnh tim mạch Đối với bất kỳ ai bị bệnh tim mạch, khi trời trở lạnh cần phải có biện pháp phòng ngừa đặc biệt. May mắn, những biện pháp phòng ngừa khá đơn giản và mọi người có thể dễ dàng thực hiện. Hạn chế tiếp xúc với lạnh: Hạn chế thời gian ở ngoài trời lạnh, và nếu bạn ra ngoài, hãy mặc ấm, nhiều lớp, che đầu và tay, đi tất và giày ấm. Đừng cố gắng hoạt động quá sức: Không hoạt động quá gắng sức trong thời tiết lạnh. Ngay việc đi bộ nhanh hơn bình thường gặp khi gió lạnh thổi vào mặt và cơ thể cũng đã là gắng sức. Chỉ ở ngoài trời lạnh thôi cũng thúc đẩy cơ thể chúng ta phải gắng sức hơn bình thường nhằm giữ nhiệt độ cơ thể ổn định. Đừng để cơ thể trở nên quá nóng: Mặc quần áo ấm sau đó tham gia hoạt động thể chất có thể dẫn đến cơ thể bị nóng bức. Ngược lại với lạnh, quá nóng sẽ làm cho các mạch máu đột ngột giãn ra và có thể dẫn đến hạ huyết áp ở một người bị bệnh tim mạch. Nếu bạn hoạt động ngoài trời lạnh và thấy mình đổ mồ hôi, như vậy bạn đang bị quá nóng và không ổn. Nếu bạn bị bệnh tim mạch, hãy coi đây là dấu hiệu nguy hiểm. Hãy dừng việc bạn đang làm và vào ngay trong nhà. Tiêm phòng cúm: Mùa thu đông cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh cúm do độ ẩm thấp trong thời tiết lạnh và hệ thống giữ ấm trong nhà không đủ. Bệnh cúm có khả năng nguy hiểm đối với bất kỳ ai đang bị bệnh tim mạch. Bạn cần tiêm phòng vắc-xin cúm trước mỗi mùa lạnh tới. Và nếu bạn cảm thấy mình phát triển các triệu chứng của bệnh cúm, hãy can thiệp điều trị ngay. Không uống rượu: Tránh uống rượu trước khi ra ngoài trời. Vì rượu làm giãn nở các mạch máu trên da, khiến bạn cảm thấy ấm hơn trong khi thực sự lấy đi nguồn nhiệt ra khỏi các cơ quan quan trọng của bạn. Nếu bạn bị bệnh tim mạch hay đột quỵ cũ, nhiệt độ lạnh có thể nguy hiểm hoặc thậm chí đe dọa tính mạng. Luôn nhớ đảm bảo rằng bạn thực hiện các biện pháp phòng ngừa thông thường có thể giảm nguy cơ nếu bạn ở trong môi trường lạnh.   Theo Sức khỏe và đời sống

GIAO MÙA TRỞ LẠNH, NGƯỜI CAO TUỔI DỄ MẮC BỆNH GÌ?

Người cao tuổi (NCT) vốn có sức đề kháng kém, lại sẵn có một vài bệnh mạn tính, vậy nên cùng với sự tác động của thời tiết lúc giao mùa nóng lạnh, mưa nắng thất thường, họ rất dễ ốm. Dưới đây là những bệnh mà NCT dễ mắc lúc giao mùa. Bệnh đường hô hấp Khi trời nóng lạnh, mưa nắng thất thường, NCT có thể bị cảm lạnh do chế độ sinh hoạt hàng ngày không hợp lý (đang đi ngoài nắng về lại tắm ngay hoặc đang trong phòng đi ra ngoài trời nhiệt độ thấp). Nếu nhẹ có thể gây viêm đường hô hấp trên như viêm họng, viêm mũi, nếu nặng có thể viêm phế quản, phổi. Đối với NCT bị viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản hoặc hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khi nóng, lạnh đột ngột cũng sẽ tái xuất hiện, nhất là hen ác tính rất nguy hiểm đến tính mạng. Rối loạn tiêu hóa Rối loạn tiêu hóa là một trong những bệnh phổ biến trong mùa mưa. Với NCT, nguy cơ bị rối loạn tiêu hóa cao hơn người trẻ do sức đề kháng và sự chuyển hóa thức ăn trong cơ thể kém. Hơn nữa, khi trời lạnh và mưa nhiều, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh (ăn rau sống, uống nước đá nhiễm khuẩn, thực phẩm bị ô nhiễm vi sinh vật, hóa chất) dẫn đến ngộ độc thực phẩm, tiêu chảy gây mất nước và chất điện giải. Một số NCT do chế độ ăn uống chưa hợp lý nên thường bị đầy bụng, khó tiêu, đầy hơi, trướng bụng, táo bón... Những bệnh đường tiêu hóa này tái đi tái lại nhiều lần sẽ làm sức khỏe NCT suy giảm và nguy cơ mắc các bệnh tiết niệu, nội tiết, tim mạch... tăng cao hơn. [[{"fid":"3159","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 302px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Khám sức khỏe cho người cao tuổi. Bệnh tim mạch, tăng huyết áp Về mùa lạnh, huyết áp thường tăng cao so với mùa hè khoảng 5mmHg, sự duy trì liên tục mức tăng huyết áp này sẽ làm tăng 21% các biến chứng tim mạch. Thời tiết lạnh làm tăng tiết các catecholamin trong máu dẫn đến co mạch ngoại biên, làm tăng lượng máu trở về tim và tăng huyết áp. Với NCT, huyết áp phải kiểm soát để không quá 140/90mmHg. Khi thời tiết chuyển sang giá lạnh đột ngột, các mạch máu trong cơ thể bị co thắt lại, huyết áp sẽ tăng, ngoài ra mức huyết áp có thể tăng vọt khi đột ngột ra ngoài trời lạnh hoặc khi đi tắm rửa, rất nguy hiểm. Đặc biệt, những người bị bệnh đái tháo đường, nguy cơ biến chứng tăng huyết áp càng cao và dễ có cơn tăng huyết áp kịch phát, nguy hiểm. Đối với bệnh nhân có bệnh mạch vành, khi trời lạnh, nhu cầu ôxy cho cơ tim tăng hơn vì thế cũng có nguy cơ xuất hiện dấu hiệu của các bệnh mạch vành như đau ngực, nhồi máu cơ tim cấp. Đặc biệt thời tiết lạnh còn làm tăng số lượng tiểu cầu, tăng hồng cầu và độ nhớt của máu, làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành, tai biến mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại vi... Các bệnh về cơ, xương, khớp Một số bệnh về cơ xương khớp NCT rất dễ mắc phải như viêm khớp gối, đau lưng, cứng khớp và khó vận động. Viêm khớp gối là bệnh xuất hiện thường xuyên nhất. Theo thời gian xương khớp bắt đầu thoái hóa, hình thành các mấu xương, gai xương trong khớp gối gây chèn ép vào màng khớp và gây viêm. Mỗi khi tiết trời chuyển mùa, hanh khô hoặc lạnh, sự tuần hoàn của các mạch máu đi nuôi cơ thể kém hơn, các khớp gối dễ bị sưng nề gây nên sự khó khăn trong việc vận động, nhất là các vận động gấp duỗi cẳng chân, bước cầu thang... Đau lưng ở NCT đôi khi là dấu hiệu báo trước những ngày thời tiết chuyển mùa sắp đến. Ở người già, đau lưng diễn ra khá thường xuyên, có thể vào mọi lúc. Tuy nhiên vào đợt chuyển mùa, cơn đau thường diễn ra dai dẳng với cường độ mạnh. Nhiều NCT thấy rằng cơn đau lưng xuất hiện là dấu hiệu báo có sự thay đổi đột ngột của thời tiết. Đau lưng gây nhiều bất tiện trong cuộc sống thường ngày. Rối loạn giấc ngủ Giấc ngủ rất cần cho một cơ thể khỏe mạnh. Ở NCT, giấc ngủ càng quan trọng hơn do độ tuổi này sức khỏe suy giảm cùng với những căn bệnh tuổi già. Khi thời tiết thay đổi, cơ thể mất nhiều năng lượng để thích ứng nên rất khó ngủ. NCT thường chỉ trải qua giấc ngủ thực sự khoảng 4 giờ mỗi ngày, chính điều này đã là sự biểu hiện của việc không được ngủ đủ giấc. Có thể lúc đi ngủ thì thường trằn trọc mãi không ngủ được hoặc là ngủ rất dễ nhưng lại tỉnh sớm và nằm trằn trọc cả đêm. Ở những người có tình trạng rối loạn giấc ngủ, cơ thể không được hồi phục sức khỏe đầy đủ sẽ dẫn tới tình trạng mệt mỏi, suy nhược, ảnh hưởng tới thần kinh. Do sức khỏe kém nên NCT thường ít vận động thể chất khiến cơ thể luôn trong tình trạng mệt mỏi, ốm yếu, kém phần dẻo dai, cũng khiến NCT khó đi vào giấc ngủ hơn. Tình trạng rối loạn giấc ngủ không được điều chỉnh, lâu ngày còn có thể dẫn tới suy nhược cơ thể, chán nản, trầm cảm hay cáu gắt, chán ăn, buồn bã, bi quan...   Theo Sức khỏe và đời sống

CHUYỂN MÙA, DỰ PHÒNG CƠN HEN PHẾ QUẢN BÙNG PHÁT

Hen phế quản hay còn gọi là suyễn, là tình trạng viêm đường hô hấp mạn tính. Thời tiết thay đổi, nhiệt độ lúc nóng lúc lạnh là điều kiện thuận lợi cho sự bùng phát của nhiều loại bệnh mạn tính. Đặc biệt là người có bệnh hen phế quản do nhạy cảm với môi trường, mà việc dự phòng không tốt có khi dẫn đến khởi phát cơn hen ác tính sẽ hết sức nguy hiểm. Những yếu tố làm khởi phát cơn hen Hàng đầu là các yếu tố gây dị ứng như phấn hoa, da lông súc vật, hóa chất, nấm mốc, bụi bẩn... Người ta cho rằng, các tác nhân này sau khi bị hít vào đường hô hấp sẽ kích ứng các tế bào miễn dịch giải phóng các chất như histamin có tính chất gây co thắt và phù nề, tăng tiết rất mạnh tại các tiểu phế quản gây nên cơn hen. Ngoài ra, dị ứng qua các con đường khác như dị ứng thực phẩm (sứa, tôm, cua biển...), dị ứng thuốc, hóa chất... cũng đều có khả năng khởi phát cơn hen ở người có cơ địa nhạy cảm và nhiều trường hợp biểu hiện rất nặng nề. Nhiễm khuẩn và nhiễm virus đóng vai trò quan trọng trong việc khởi phát cơn hen phế quản cấp. Có những bằng chứng chắc chắn xác nhận những nhiễm khuẩn đường hô hấp trên gây nên bởi virus và Mycoplasma pneumoniae như là những tác nhân quan trọng làm bộc phát cơn hen phế quản. Các loại virus như R.syncytialvirus, Parainfluenza, Influenza A, Rhinovirus và Adenovirus cũng được cho là có liên quan. Các hoạt động gắng sức quá mức cũng là yếu tố khởi phát cơn hen đối với một số người. Khi vận động mạnh, nhu cầu ôxy tăng khiến bệnh nhân phải thở nhanh, luồng khí ra vào phế quản nhanh và mạnh hơn, ít được làm ẩm và làm ấm hơn đã gây kích ứng các tiểu phế quản ở người nhạy cảm và cơn hen phế quản xảy ra. Các yếu tố khác như nhiệt độ thấp; các chất ô nhiễm trong môi trường như bụi bẩn, khói bụi, khói thuốc lá cũng gây nguồn cho cơn hen bùng phát. Một số loại thuốc như thuốc chẹn beta giao cảm làm mất cân bằng giữa hệ giao cảm và đối giao cảm, aspirin, ibuprofen, các chất sulfite và phụ gia, chất màu trong thực phẩm có thể gây khởi phát hoặc làm nặng thêm tình trạng hen. Cơn hen phế quản cũng có nguy cơ  bùng phát ở người bị các stress tâm lý nặng nề, đang có các cảm xúc mạnh (như vui buồn quá mức) và cuối cùng, trào ngược dạ dày thực quản, chu kỳ kinh nguyệt cũng là “thủ phạm” khởi nguồn một cơn co thắt cấp ở người mẫn cảm. [[{"fid":"3148","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"400","width":"711","style":"width: 500px; height: 281px;","class":"media-element file-default"}}]] Sử dụng phác đồ thuốc dự phòng bao gồm thuốc giãn phế quản, corticoide dạng hít hoặc uống theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc để dự phòng cơn hen. Đối tượng dễ mắc Cơn hen chỉ xuất hiện ở những người tiềm ẩn những yếu tố nguy cơ. Nguy cơ thứ nhất là yếu tố gia đình (gene). Một người sẽ có nguy cơ bị hen khi tiếp xúc với các tác nhân kích thích nếu trong gia đình có người cùng huyết thống (bố mẹ, anh em ruột...) bị hen phế quản. Thứ hai là những người có cơ địa dị ứng hoặc hay bị các bệnh dị ứng như viêm mũi xoang, viêm da dị ứng. Những người này có nguy cơ cao bị co thắt phế quản cấp (hen) khi tiếp xúc với dị nguyên. Người ta cũng liệt kê một số đối tượng khác nữa cũng dễ bị hen phế quản như người béo phì; người hút thuốc lá (kể cả hút thuốc lá thụ động); người có mẹ hút thuốc trong thời kỳ mang thai, người thường xuyên tiếp xúc với khói bụi và các chất gây ô nhiễm, hóa chất độc hại hoặc bụi trong các nhà máy xí nghiệp và người sinh thiếu cân non tháng. Biểu hiện của hen phế quản cấp Cơn hen phế quản thường xuất hiện với các dấu hiệu như mệt mỏi, đau đầu, khó thở tăng dần. Cá biệt cũng có trường hợp bệnh nhân lên cơn co thắt dữ dội, suy hô hấp cấp và tử vong. Bệnh nhân khó thở khi thở ra, hoảng hốt, vã mồ hôi lạnh, co kéo cơ hô hấp và đặc trưng nhất là tiếng cò cử hay tiếng thở khò khè. Bệnh nhân thở rất nặng nhọc, ngực như có cảm giác bó chặt, chèn ép và thường phải ngồi dậy, bám vào thành giường để thở. Bệnh nhân cũng thường có ho nhiều với đờm trắng, dính hoặc đặc quánh kèm theo; hoặc sốt cao và ho khạc đờm vàng nếu có nhiễm khuẩn (bội nhiễm). Nghe phổi bệnh nhân thấy đầy tiếng ran (ran rít hoặc ran). Nếu không được xử trí, diễn biến của cơn hen sẽ nặng dần lên, chuyển thành nguy kịch với các dấu hiệu như mạch chậm rời rạc, tụt huyết áp, hôn mê, thở ngáp, nghe phổi “im lặng”. Có các dấu hiệu này đồng nghĩa với việc bệnh nhân sắp tử vong. Cần làm gì để dự phòng và kiểm soát cơn hen? Tuy không tuyệt đối, nhưng việc dự phòng sự xuất hiện của cơn hen là điều hoàn toàn có thể. Trước hết, đối với những người có nguy cơ cao bị hen (tính chất gia đình, cơ địa dị ứng...), nên tránh tiếp xúc với những chất dễ gây dị ứng như phấn hoa, bụi bẩn, hóa chất, khói thuốc lá. Người bị hen do gắng sức hoặc do thuốc tuyệt đối không vận động quá sức hoặc dùng lại những thứ thuốc mà trước đó đã khởi phát cơn hen. Người bị hen do nghề nghiệp tốt nhất nên chuyển đổi môi trường làm việc cho hợp lý hơn. Dự phòng các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp trên cũng cần thiết ở người đã từng bị hen và việc này càng nên được chú ý vào mùa lạnh. Duy trì trọng lượng cơ thể hợp lý, luyện tập thể lực nhẹ nhàng, chế độ dinh dưỡng tốt cũng góp phần đáng kể vào việc ngăn ngừa sự khởi phát của cơn hen. Ở những người có nguy cơ cao hơn, nên sử dụng phác đồ thuốc dự phòng bao gồm thuốc giãn phế quản, corticoide dạng hít hoặc uống theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc để dự phòng cơn hen.   Theo Sức khỏe và đời sống

Trang