CẤP CỨU (24/24):
02053.898.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

PHÒNG BỆNH MÙA NẮNG NÓNG Ở TRẺ EM

Thời tiết nắng nóng, đặc biệt là độ ẩm trong không khí khá cao là những điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, siêu vi… bùng phát Thời tiết nắng nóng, đặc biệt là độ ẩm trong không khí khá cao là những điều kiện thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, siêu vi… bùng phát, tấn công và gây bệnh cho con người, đặc biệt là trẻ em sức đề kháng còn yếu. Đây là điều phụ huynh cần lưu ý để giúp trẻ phòng bệnh. Những bệnh lý thường gặp Bệnh tiêu chảy: nhất là tiêu chảy cấp. Mùa nóng là mùa bùng phát và dễ mắc bệnh tiêu chảy là do nắng nóng, thức ăn dễ bị hư thiu, môi trường ô nhiễm làm phát tán mầm bệnh tiêu chảy, trẻ hay khát nước nên dễ uống những loại nước giải khát không đảm bảo vệ sinh. Ngộ độc thức ăn: thời tiết nắng nóng nếu thức ăn không được bảo quản kỹ và việc chế biến không đảm bảo quy trình vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ là nguyên nhân gây ra ngộ độc thức ăn ở trẻ em, nhất là môi trường học đường. Nhiễm siêu vi: mùa nắng nóng cũng là thời điểm làm cho trẻ dễ bị nhiễm siêu vi khiến trẻ bị sốt, phát ban, quấy khóc, nôn ói, ăn uống khó khăn… Hiện có hơn 200 chủng siêu vi được phân lập, tuy nhiên hầu hết đều là siêu vi thông thường ít có hại cho trẻ, bệnh có thể tự khỏi trong 5 – 7 ngày nếu được theo dõi và chăm sóc tốt. Một số siêu vi nguy hiểm có thể gây hại cho trẻ, chúng ta cần phải chú ý để có cách phòng ngừa chủ động bằng các loại vắc-xin sẵn có như siêu vi cúm, siêu vi sởi, siêu vi gây bệnh thủy đậu, bệnh quai bị, bệnh sốt phát ban rubella… Viêm não Nhật Bản B: trong mùa nắng nóng, theo ghi nhận của các chuyên gia y tế về bệnh truyền nhiễm thì tỷ lệ mắc bệnh viêm não Nhật Bản B ở trẻ em thường cao hơn mùa mưa. Đây là bệnh lý khá nguy hiểm nếu bệnh diễn tiến nặng mà không được phát hiện kịp thời. Tuy nhiên, bệnh lý này hiện nay đã có thuốc phòng ngừa hiệu quả, phần nào làm giảm bớt gánh nặng bệnh tật cho trẻ em. Bệnh tay chân miệng: đây là bệnh lý đang gây hoang mang cho rất nhiều phụ huynh vì sự gia tăng đáng kể số lượng trẻ em mắc bệnh trong 2 tháng vừa qua. Bệnh tay chân miệng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhiều nhất là ở nhóm trẻ dưới 3 tuổi, khả năng lây lan rất cao, bệnh liên quan đặc biệt đến vấn đề vệ sinh cá nhân và môi trường. Bệnh thật sự nguy hiểm nếu xuất hiện các biến chứng về thần kinh như run chi, co giật, gồng người, hốt hoảng, lơ mơ… nếu gặp những biểu hiện này phụ huynh nên khẩn trương đưa trẻ đến bệnh viện để được chữa trị kịp thời. Các bệnh khác: với thời tiết oi bức, nhiệt độ môi trường tăng cao làm trẻ em thường bị chứng rôm sảy gây ngứa ngáy rất khó chịu; hoặc trẻ có thể bị say nắng nếu chơi ở ngoài nắng nóng quá lâu, vì cơ thể trẻ bị mất nước và muối khoáng khá nhiều qua sự bài tiết mồ hôi trên da, qua hơi thở. [[{"fid":"2000","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 281px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Rửa tay thường xuyên với xà phòng giúp phòng bệnh Biện pháp phòng ngừa Tạo thói quen vệ sinh cá nhân tốt: như rửa tay sạch sẽ - đúng cách trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và chơi đùa sẽ giúp trẻ loại bỏ hiệu quả những tác nhân gây bệnh nguy hiểm từ chính đôi bàn tay của mình. Ăn uống hợp vệ sinh: việc chế biến và bảo quản đồ ăn, thức uống phải tuân thủ chặt chẽ quy định an toàn vệ sinh thực phẩm của Bộ Y tế, nhằm loại trừ tối đa các tác nhân gây bệnh ở đường tiêu hóa có thể gây hại cho sức khỏe của trẻ. Tăng cường lượng dịch uống: để bồi hoàn lượng nước cần thiết cho cơ thể, đặc biệt là những loại nước uống giàu khoáng chất và nhiều vitamin như các loại nước ép trái cây, nước cam tươi, nước dừa tươi, nước sôi nguội… giúp cơ thể trẻ luôn luôn mát mẻ và tăng cường sức khỏe để chống chọi với bệnh tật. Tiêm ngừa đầy đủ: tất cả những loại bệnh lý nguy hiểm phù hợp với lứa tuổi của trẻ bằng các loại vắc-xin sẵn có, giúp trẻ được bảo vệ tốt nhất trong suốt mùa nắng nóng này.   Theo Sức khỏe và đời sống

NHỮNG VIỆC CẦN LÀM KHI TRẺ BỊ TIÊU CHẢY

Tiêu chảy là bệnh xảy ra quanh năm và mọi người đều có thể mắc nhưng trẻ em là đối tượng dễ bị bệnh hơn. Tiêu chảy là bệnh xảy ra quanh năm và mọi người đều có thể mắc nhưng trẻ em là đối tượng dễ bị bệnh hơn. Khi bị tiêu chảy, trẻ có nhiều nguy cơ suy dinh dưỡng thậm chí tử vong nếu không được chăm sóc và điều trị đúng. Tuy nhiên, qua tiếp xúc với các bà mẹ đưa trẻ đi khám, vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ về căn bệnh này: nguyên nhân do đâu, có thể làm gì để phòng ngừa cũng như xử trí thế nào khi trẻ bị tiêu chảy. Vì sao trẻ dễ bị tiêu chảy? Gọi là tiêu chảy khi trẻ đi tiêu trên 3 lần trong ngày, ra phân lỏng hoặc toàn nước. Tiêu chảy gồm 2 loại: tiêu chảy cấp tính gọi tắt là tiêu chảy cấp. Xảy ra đột ngột kéo dài vài ngày đến hàng tuần nhưng không quá 2 tuần. Tiêu chảy mạn tính là có ngày tiêu chảy nhiều có ngày ít kéo dài trên 2 tuần. Nguyên nhân chính là do ăn uống thiếu vệ sinh, thức ăn ôi thiu không được nấu chín kỹ hoặc để ruồi nhặng bâu đậu gây nhiễm khuẩn, bàn tay bẩn không rửa sạch trước khi cầm thức ăn. Vi khuẩn, virut sẽ theo đó tới ruột và ở đây chúng sinh sôi nảy nở rất nhanh và bài tiết các chất độc. Lúc này cơ thể sẽ phản ứng lại ngay bằng cách huy động nhiều nước vào ruột để hoà tan các virut, vi khuẩn và các chất độc do chúng sinh ra, đồng thời ruột co bóp mạnh để thải nước đó mang theo virut, vi khuẩn và các chất độc ra ngoài cơ thể, điều đó sinh ra tiêu chảy. Có thể tử vong do tiêu chảy mất nước Nếu không được bù nước và điện giải cơ thể sẽ lâm vào tình trạng mất nước và điện. Các công trình nghiên cứu về bệnh tiêu chảy đã chứng minh có tới 70% số tử vong là do mất nước. Số còn lại do các nguyên nhân nhiễm độc, viêm phổi... Ngoài ra, trẻ tiêu chảy dễ có nguy cơ suy dinh dưỡng, vì trong khi tiêu chảy các chất dinh dưỡng không được cung cấp đầy đủ do trẻ chán ăn, hơn nữa do gia đình thường mắc sai lầm là không cho trẻ ăn vì sợ ăn vào sẽ tăng tiêu chảy. Hậu quả khi trẻ khỏi bệnh tiêu chảy thì lại bị suy dinh dưỡng. Nhận biết trẻ bị mất nước do tiêu chảy: có 3 mức độ Mất nước nhẹ: trẻ khát nước và đòi uống. Ở trẻ nhỏ chưa biết nói chỉ biết quấy khóc chỉ khi cho uống nước đủ mới hết khóc. Mất nước vừa: ngoài khát nước trẻ có biểu hiện khô mắt, niêm mạc môi, miệng khô, da nhăn nheo. Các trẻ nhỏ có thể thóp lõm xuống, mắt trũng lại, ngủ mắt nhắm không kín, trẻ khóc không có nước mắt, nước dãi... Mất nước nặng: ngoài các triệu chứng trên sẽ thấy trẻ có dấu hiệu đặc biệt về thần kinh như lừ đừ, có khi vật vã hoặc li bì hôn mê hoặc có những cơn co giật. [[{"fid":"1998","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 313px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Cho trẻ ăn thức ăn mềm, dễ tiêu và ăn đầy đủ chất dinh dưỡng Chăm sóc tại nhà thế nào? Những trẻ mất nước nhẹ có thể điều trị tại nhà. Trẻ mất nước vừa thì tuỳ theo tình trạng chung của trẻ có thể được chữa tại nhà có hướng dẫn của thầy thuốc hoặc nhập viện điều trị. Những trẻ mất nước nặng nhất thiết phải nhập viện điều trị. Những việc cần làm khi trẻ bị tiêu chảy: Ngay khi trẻ bị tiêu chảy cần cho trẻ uống bù nước tốt nhất là uống oresol (nhớ pha theo đúng chỉ định trên bao bì, 1 gói pha trong đúng 1 lít nước đun sôi để nguội hoặc loại gói nhỏ thì pha đúng 200ml). Cho trẻ uống từ từ từng muỗng một uống cho tới khi hết khát. Nếu trong 24 giờ không uống hết lít dung dịch đã pha thì đổ đi pha khác vì dung dịch đã pha sẽ hỏng; Tiếp tục cho trẻ ăn và bú bình thường (nếu trẻ còn bú) chú ý dùng thức ăn dễ tiêu: cháo thịt nạc, thịt gà nấu với cà rốt, khoai tây. Nếu trẻ dùng sữa hộp thì nên pha loãng gấp đôi mức bình thường Những sai lầm cần tránh: Một số bà mẹ sai lầm là khi trẻ tiêu chảy lại không cho trẻ ăn đầy đủ và không cho uống nước vì sợ làm tiêu chảy tăng dẫn đến trẻ tiêu chảy đã mất nước lại càng mất nước trầm trọng càng nguy hiểm hơn; Sai lầm thứ hai là tự ý dùng thuốc kháng sinh. Ngày nay, các công trình nghiên cứu về tiêu chảy chứng minh rằng trong khi trẻ tiêu chảy, cơ thể vẫn hấp thu được nước theo đường uống và hấp thu được tới 60% các thức ăn đưa vào theo đường tiêu hoá. Hơn nữa phần lớn nguyên nhân tiêu chảy do virut nên dùng kháng sinh hoàn toàn vô ích mà còn làm trẻ mệt thêm. Vì vậy, chỉ dùng kháng sinh khi có chỉ định của bác sĩ. Vậy khi nào cần truyền dịch: trẻ mất nước vừa nhưng không uống được, uống vào lại nôn và những trẻ mất nước nặng nhất thiết phải truyền dịch để bù nước và điện giải. Tuy nhiên, việc truyền dịch phải được tiến hành tại cơ sở y tế do bác sĩ thăm khám chỉ định và theo dõi để tránh các tai biến có thể gặp khi đang truyền.   Theo Sức khỏe và đời sống  

CÁCH XỬ TRÍ KHI TRẺ SỐT CAO CO GIẬT

Trong giai đoạn phát triển từ 2 tháng đến 6 tuổi, trẻ bị sốt cao co giật 1 hoặc 2 lần thì có thể coi là lành tính. Tuy nhiên, nếu cha mẹ không biết cách xử lý khi trẻ bị sốt cao co giật sẽ dễ gây tổn thương cho trẻ, thậm chí có thể để lại di chứng động kinh về sau rất khó xử lý. Vì sao sốt cao co giật thường xảy ra ở trẻ nhỏ? Sốt không phải là một bệnh lý, mà là phản ứng rất bình thường ở trẻ nhỏ nhằm chống lại các tác nhân gây hại xâm nhập từ bên ngoài như vi khuẩn, vi rut,… hoặc có thể do dị ứng thuốc, mọc răng, hay sau chích ngừa, tiêm vắc – xin,… Não bộ của trẻ trong giai đoạn sơ sinh cho đến 6 tuổi chưa thực sự phát triển hoàn chỉnh, nên khá nhạy cảm với sự thay đổi thân nhiệt. Nhiệt độ cao hoặc tốc độ thay đổi nhiệt quá nhanh đều có thể kích thích não bộ gây co giật. Các cơn co giật này thường là co giật toàn thể, kéo dài không quá 5 phút. Sau cơn, trẻ thường lờ đờ, chậm chạp, mệt mỏi hoặc buồn ngủ. Sốt cao co giật có nguy hiểm không? Theo các chuyên gia đánh giá, sốt cao co giật nếu chỉ xảy ra một vài lần thì có thể đánh giá là lành tính, không gây bất cứ thiệt hại lâu dài nào cho trẻ. Tuy nhiên, một số ít trẻ nhỏ sốt cao co giật dù chỉ một lần cũng có thể tiến triển thành động kinh, tỉ lệ này chiếm khoảng 1.5%. Và nguy cơ có thể tăng lên 2.5 % nếu trẻ có những yếu tố sau: - Cơn sốt cao co giật xuất hiện lần đầu khi trẻ dưới 12 tháng tuổi. - Trẻ có những bất thường trong hệ thần kinh hoặc chậm phát triển. - Tiền sử gia đình có người bị động kinh. - Sốt nhẹ trước khi lên cơn co giật 1 tiếng. - Cơn co kéo dài trên 15 phút hoặc có nhiều cơn co giật trong 24 giờ. Mặc dù tỉ lệ trẻ mắc di chứng động kinh sau sốt cao co giật là thấp, nhưng nguy cơ tái phát cơn co giật ở những trẻ này trong hai năm kế tiếp có thể từ 15 – 70% từ khi cơn co giật đầu tiên xuất hiện. Thực tế cho thấy, co giật tái diễn nhiều lần sẽ không tốt cho não bộ não của trẻ. Bởi sự phóng điện đột ngột, quá mức của các nơron thần kinh có thể “giết chết” các tế bào não, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc, giác quan, ngôn ngữ và làm giảm trí nhớ của trẻ. [[{"fid":"1992","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 307px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Cách xử lý khi trẻ bị co giật Khi trẻ bị co giật, cha mẹ chớ nên hoảng hốt mà phải thực sự bình tĩnh và nhanh chóng thực hiện các bước sơ cứu sau: - Nếu cơn co giật xảy ra khi đang bế trẻ trên tay, thay vì ẵm ngửa và ghì chặt tay chân thì bạn nên bế xoay trẻ sang tư thế nghiêng một bên để trẻ dễ thở và tránh sặc đờm dãi hoặc chất nôn, cơn co giật thường sẽ tự hết sau vài phút. - Trong trường hợp trẻ đang chơi và ngã co giật bất ngờ, hãy loại bỏ mọi vật sắc nhọn xung quanh khu vực trẻ đang nằm để tránh gây tổn thương cho trẻ. Nới lỏng quần áo, đặc biệt là vùng cổ để đường thở thông thoáng. Khi kết thúc cơn co giật, nên đặt trẻ nằm nghiêng sang một bên để nhanh hồi phục. Lưu ý là không nên cho ngón tay hoặc các vật cứng vào miệng trẻ. Điều này có thể gây tổn thương răng, cơ hàm, nướu, lợi, thậm chí gây tắc nghẽn đường thở, tử vong nếu trẻ cắn vỡ vật và nuốt mảnh vụn. Nên đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để thăm khám, xác định rõ căn nguyên và có hướng điều trị kịp thời. Trong việc chăm sóc trẻ, cha mẹ lưu ý để trẻ được ngủ đủ giấc và bổ sung dinh dưỡng bằng những thực phẩm dạng lỏng, dễ tiêu nhằm giúp cơ thể nhanh chóng hồi phục. Cách chăm sóc giúp phòng cơn sốt cao co giật tái phát Trẻ đã có tiền sử sốt cao co giật rất dễ xuất hiện cơn co giật ở những lần sốt tiếp theo, thậm chí không sốt cũng có thể bị co giật, lâu dần tiến triển thành động kinh. Do vậy, ngay khi mới chớm sốt, bạn nên: -  Sử dụng thuốc hạ sốt đúng, đủ liều và kịp thời. Nếu trẻ không uống được thì có thể dùng dạng viên đút hậu môn để nhanh hạ sốt, đồng thời dùng khăn ấm chườm khắp vùng trán, lưng, nách, bẹn,… - Cho trẻ uống oresol, nước ép, sinh tố trái cây để cân bằng điện giải, bổ sung vitamin tăng sức đề kháng cho trẻ.   Theo Sức khỏe và đời sống

BỆNH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ KHI GIAO MÙA, CHA MẸ CẦN CHÚ Ý

Thời điểm giao mùa nóng ẩm và thời tiết thay đổi thất thường nên có rất nhiều trẻ bị viêm đường hô hấp trên nếu không phòng và điều trị đúng thì rất dễ chuyển thành viêm đường hô hấp dưới (viêm phổi, viêm tiểu phế quản). Viêm mũi dị ứng Khi thời tiết thay đổi, chuyển mùa bé dễ bị viêm mũi dị ứng, đặc biệt những bé có cơ địa mẫn cảm. Trẻ viêm mũi dị ứng thường có các triệu chứng: Ngứa mũi, hắt hơi nhiều, sổ mũi (nước mũi trong hoặc có màu vàng hoặc xanh khi đó là đã bị bội nhiễm vi khuẩn), có bé bị nghẹt mũi. Nặng hơn, bé bị khó thở, ù tai. Viêm mũi dị ứng có thể gây biến chứng thành hen phế quản, hen suyễn, viêm amidan ở bé. Để phòng bệnh viêm mũi dị ứng ở trẻ nhỏ, cha mẹ nên hạn chế cho bé tiếp xúc với vật nuôi như chó, mèo trong nhà. Tránh các loại hoá chất xịt phòng hoặc phấn hoa Thường xuyên giặt giũ chăn, ga, gối cho bé. Vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tránh nấm mốc. Không cho bé tiếp xúc với khói thuốc lá. Dạy bé cách đánh răng ngày 2 lần là buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng khi ngủ dậy. Giữ ấm cơ thể bằng chăn mỏng khi nằm điều hoà và không để bé bị nóng quá lúc trời ấm lên. [[{"fid":"1985","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"183","width":"275","style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"}}]] Cảm/cúm Cảm do vi rút gây ra và lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh. Cúm là bệnh về đường hô hấp do vi rút. Bệnh lây lan qua nước bọt, nước mũi/đờm của người mang bệnh.Trẻ nhỏ rất dễ bị lây bệnh này khi thay đổi thời tiết, nóng chuyển sang lạnh. Khi bé bị cảm thường bị nghẹt mũi, chảy nước mũi, sốt, đau đầu, ho, sưng họng hoặc mệt mỏi. Bệnh cúm thường có triệu chứng sốt, đau các cơ, ho khan, chảy nước mũi, nghẹt mũi, đau đầu và mệt mỏi… nếu kèm theo sốt cao thì phải đưa đi khám ngay vì dễ bị biến chứng gây nguy hiểm đường hô hấp. Để phòng tránh cảm cúm phụ huynh cần mặc ấm cho trẻ, chú ý phần cổ, tay, chân Khuyến khích trẻ tham gia hoạt động thể thao để có cơ hội hít thở không khí trong lành, tăng cường trao đổi chất. Giữ không khí trong nhà luôn thoáng mát, không ẩm mốc. Đối với trẻ những tháng đầu đời thì hãy cho con bú sữa mẹ. Trẻ bắt đầu ăn dặm được thì nên bổ sung nhiều rau, hoa quả và cho trẻ ăn chín. Chú ý tới giấc ngủ của trẻ. Hãy đảm bảo trẻ ngủ trong môi trường thoáng gió và thoải mái. Viêm họng cấp Bệnh viêm họng cấp thường xảy ra vào mùa đông hoặc mùa hè do trẻ uống nước đá nhiều và ăn kem. Triệu chứng đầu tiên là đau họng khi nuốt, sốt, khàn tiếng, ho do bị kích ứng ở đường hô hấp trên, có thể kèm theo sổ mũi. Để phòng tránh viêm họng cấp ở trẻ cần chú ý vệ sinh mũi họng như: rửa mũi, đánh răng, súc miệng nước muối ấm. Giữ ấm vùng cổ khi nằm điều hoà. Có thể cho trẻ lớn uống các thảo dược giúp sát khuẩn và tăng sức đề kháng như mật ong chanh đào. Tránh cho trẻ uống nước đá và kem quá lạnh.   Theo Sức khỏe và đời sống

RỬA TAY ĐÚNG CÁCH GIÚP PHÒNG BỆNH

Rửa tay với xà phòng ai cũng tưởng đơn giản, nhưng nếu rửa không đúng cách, không đúng thời điểm thì tay vẫn không sạch, vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh... Rửa tay đúng cách với xà phòng Theo Tổ chức Y tế Thế giới, rửa tay được coi là liều vắc-xin tự chế rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu người. Các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn cho biết, các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh, trong đó có rửa tay bằng xà phòng. Theo đó, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn, virut gây bệnh tiêu chảy - bệnh đã làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới. Việc rửa tay với xà phòng thường xuyên giúp giảm 35-47% nguy cơ các bệnh tay chân miệng, tiêu chảy, thương hàn... Những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động Phong trào vệ sinh yêu nước trong đó có triển khai rửa tay với xà phòng tại bệnh viện và cộng đồng. Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, cần rửa tay thường xuyên bằng nước sạch và xà phòng. Quy trình rửa tay cần đảm bảo làm sạch các ngón tay, mu bàn tay, kẽ ngón tay, lòng bàn tay. Thời gian mỗi lần rửa tay tối thiểu là 30 giây. Cần rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh; rửa tay sau khi ho, hắt hơi mà phải dùng tay che miệng, sau khi tiếp xúc với đồ vật công cộng có nguy cơ nhiễm virut cúm, bắt tay với người nghi nhiễm cúm... [[{"fid":"1973","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 532px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Vệ sinh tay bằng xà phòng và nước hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn cần thực hiện theo kỹ thuật 6 bước: - Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau. - Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại. - Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón. - Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại (mu tay để khum khớp với lòng bàn tay). - Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại (lòng bàn tay ôm lấy ngón cái). - Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại. Cách bảo quản xà phòng rửa tay Xà phòng thường có nhiều dạng khác nhau: dạng bánh, dạng dung dịch hoặc dạng bột. Mặc dù đã được bổ sung chất dưỡng da và được điều chế ở pH trung tính, rửa tay bằng nước và xà phòng thường vẫn có thể dẫn tới một số tác dụng phụ như viêm da kích ứng hoặc khô da. Trực khuẩn gram (-) và các vi khuẩn gây bệnh có thể phát triển khi xà phòng không được bảo quản đúng cách. Để bảo quản xà phòng khỏi nhiễm khuẩn, nếu để hở ra môi trường bên ngoài, cần để xà phòng ở nơi khô ráo, có nắp và lỗ thoát nước để xà phòng luôn sạch sẽ.   Theo Sức khỏe và đời sống

THẬN TRỌNG KHI TRUYỀN DỊCH

Dịch truyền là những dung dịch thuốc vô khuẩn dùng để tiêm truyền nhỏ giọt vào tĩnh mạch với khối lượng lớn. Dịch truyền có nhiều loại với các thành phần hoạt chất ở những nồng độ khác nhau. Vì sao phải truyền dịch? Dịch truyền là những dung dịch thuốc vô khuẩn dùng để tiêm truyền nhỏ giọt vào tĩnh mạch với khối lượng lớn. Dịch truyền có nhiều loại với các thành phần hoạt chất ở những nồng độ khác nhau, có thể ở dạng ưu trương hoặc đẳng trương với các chất tương ứng có trong máu. Một số dạng dịch truyền có khá đầy đủ các vi chất và được dùng thay thế huyết tương hoặc bổ sung vitamin, acid amin trong một số trường hợp cần thiết cung cấp chất dinh dưỡng trong trường hợp bệnh nhân không thể ăn hoặc hấp thu các chất dinh dưỡng qua đường tiêu hoá. Khi hàm lượng glucose hoặc các chất điện giải trong máu thấp hơn mức cho phép, thầy thuốc sẽ dựa vào kết quả xét nghiệm để quyết định có truyền dịch hay không. Trong một số trường hợp phải truyền dịch ngay cho bệnh nhân như khi người bệnh bị mất nước, mất máu, suy dinh dưỡng nặng, ngộ độc, trước và sau khi phẫu thuật... Đó là do tác dụng quan trọng của dịch truyền khi sử dụng đúng chủng loại, đúng lúc, đúng quy định và có sự theo dõi giám sát chặt chẽ nhằm mục đích để nâng huyết áp cơ thể, cân bằng các chất điện giải khi người bệnh bị mất máu, mất nước do chấn thương, tai nạn, do phẫu thuật, do tiêu chảy, nôn mửa kéo dài, do bị bỏng, do các trường hợp bị mất nhiều mồ hôi trong điều kiện quá nóng bức... Truyền dịch khi cần thiết còn có tác dụng giải các chất độc trong cơ thể khi bị ngộ độc do thuốc, ngộ độc thức ăn, nhiễm khuẩn cấp tính, giúp tăng bài tiết nước tiểu. Một số dạng dung dịch tiêm truyền còn dùng làm dung môi hòa tan một số thuốc tiêm, nhất là thuốc kháng sinh. Tùy theo tình trạng cơ thể bệnh nhân mà thầy thuốc sẽ cho truyền loại dịch nào. [[{"fid":"1964","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 334px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Những nguy cơ chết người khi truyền dịch Khi truyền dịch cho bệnh nhân trong bất cứ trường hợp nào cũng cần phải lưu ý nguy cơ bệnh nhân có thể bị sốc phản vệ (SPV). Sốc có thể xảy ra tức thì hoặc trong/ngay sau khi tiêm. Biểu hiện là bệnh nhân bắt đầu thấy rét run đột ngột, sốt, nhiệt độ cơ thể có thể lên 39 - 40oC hoặc cao hơn, mạch nhanh, vã mồ hôi, chân tay lạnh, huyết áp tụt, khó thở, nhịp thở nhanh và nông, bệnh nhân lo lắng bồn chồn, vật vã... Nếu không xử trí kịp thời bệnh nhân có thể sẽ tử vong rất nhanh. Nguyên nhân gây SPV do có chất gây sốt (chí nhiệt tố) trong dịch truyền, hoặc do dụng cụ tiêm truyền không bảo đảm vô trùng, tốc độ truyền quá nhanh. Đôi khi do cơ địa bệnh nhân mẫn cảm hoặc dị ứng thuốc. Dù nguyên nhân nào cũng phải ngừng tiêm truyền ngay và dùng thuốc cấp cứu sốc phản vệ theo quy định của ngành y tế. Chính vì tai biến nguy hiểm này mà cần cảnh báo đến tất cả mọi người không nên truyền dịch tại nhà vì không có người theo dõi đầy đủ, không có thuốc và phương tiện cấp cứu chống sốc sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, việc lạm dụng truyền dịch khi chưa thực sự cần thiết còn đưa đến những nguy hiểm khôn lường như nhiễm trùng máu, phù toàn thân, tràn dịch màng bụng, phù phổi, suy hô hấp, suy tim (nhất là với người vốn có bệnh tim mạch). Khi đưa vào cơ thể một lượng không cần thiết dịch truyền dẫn đến sự dư thừa, rối loạn điện giải khiến người bệnh mệt mỏi, nôn nao, tăng nhịp tim bất thường. Nếu truyền dịch kéo dài dẫn đến dung mao của ruột thoái hoá, khiến thức ăn hấp thu kém, gây thiếu hụt các yếu tố vi lượng. Ngay cả khi truyền dịch đúng chỉ định, bệnh nhân vẫn có thể gặp một số nguy hiểm trong quá trình truyền như chỗ tiêm bị phù, đau sưng, viêm tĩnh mạch, rét run, mặt tái nhợt, vã mồ hôi, khó thở, đau ngực... Đối với trường hợp nếu lượng dịch truyền quá nhiều, cơ thể lại bị mất nước ưu trương, sẽ bị teo tế bào não rất nguy hiểm. Thận trọng khi truyền dịch Hiện nay đã có nhiều tai biến do truyền dịch gây ra, nhất là khi truyền dịch với mục đích bồi bổ cơ thể, đẹp da, bù nước... Nhiều thầy thuốc cũng rất sính dùng các loại đạm thủy phân (acid amin, lipofuldin), các loại dịch truyền bổ sung vitamin (vitaplex) để truyền cho bệnh nhân, vừa tốn tiền và nhiều khi không cần thiết. Điều cần cảnh báo là truyền dịch tuy là một thủ thuật y tế rất thông dụng, có thể thực hiện tại các trạm y tế, nhưng không an toàn tuyệt đối như nhiều người lầm tưởng. Trái lại, nó có rất nhiều nguy cơ, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Không phải ai cũng truyền dịch được và không phải lúc nào truyền dịch cũng là lựa chọn hàng đầu. Nguy cơ lây nhiễm các bệnh như HIV/AIDS, viêm gan siêu vi B, C là rất cao qua con đường truyền dịch, nếu việc truyền dịch bừa bãi không đúng quy cách, không được vô trùng. Cần rất thận trọng đối với bệnh nhân lớn tuổi, có độ lọc thận yếu, bệnh nhân tim mạch hay có bệnh lý về não khi truyền dịch chứa chất điện giải. Việc truyền dịch để hạ sốt trẻ em cần phải cân nhắc kỹ. Trước khi truyền dịch, người bệnh phải khám, làm xét nghiệm, xác định đúng nguyên nhân gây bệnh. Nếu người bệnh bị mất nước mà vẫn ăn uống được thì không nên truyền dịch, tốt nhất bổ sung bằng đường ăn uống những thức ăn mềm, có nước như súp, cháo, sữa, nước hoa quả, oresol, vitamin C (sủi)... Vì thế, tuy dịch truyền và truyền dịch là một thủ thuật cấp cứu khá phổ biến nhưng cũng cần phải rất thận trọng và chỉ được thực hiện ở cơ sở y tế đủ điều kiện, được phép và do bác sĩ chỉ định liều lượng truyền, tốc độ truyền cho phù hợp để tránh những tai biến đáng tiếc có thể xảy ra, nhất là đối với trẻ nhỏ và người cao tuổi.   Theo Sức khỏe và đời sống

SỐT XUẤT HUYẾT VÀ NHỮNG LƯU Ý KHI CHỮA TRỊ

Hàng năm, cứ vào mùa mưa ẩm (tháng 4 - tháng 11) là dịch sốt xuất huyết lại bùng phát. Khoảng thời gian đỉnh điểm của dịch (tháng 7 - tháng 10). Hàng năm, cứ vào mùa mưa ẩm (tháng 4 - tháng 11) là dịch sốt xuất huyết lại bùng phát. Khoảng thời gian đỉnh điểm của dịch (tháng 7 - tháng 10), khoa truyền nhiễm của hầu hết các bệnh viện đều trở nên quá tải vì số ca nhập viện tăng vọt. Đây là một bệnh lý đã có phác đồ điều trị rõ ràng, song do chủ quan hoặc tự điều trị tại nhà không đúng cách nên tỉ lệ bệnh nhân nhập viện quá muộn dẫn tới tử vong khá cao. Hiểu đúng về bệnh sốt xuất huyết Sốt xuất huyết là tên gọi bệnh lý do virut Dengue gây ra. Bệnh lây lan qua vector truyền nhiễm chính là muỗi vằn Aedes aegypti, một phần nhỏ do loài muỗi cùng họ Aedes albopictus. Trong vòng 4-5 ngày, tối đa 12 ngày sau khi bị muỗi mang virut đốt, bệnh nhân biểu hiện những triệu chứng đầu tiên. Thông thường, triệu chứng bệnh nhân gặp phải bao gồm: sốt cao đột ngột (39- 400C), đau đầu dữ dội, đặc biệt đau sau hố mắt, đau cơ, khớp, kèm theo đó là buồn nôn, nôn, sưng hạch. Những triệu chứng này không điển hình và dễ nhầm lẫn với triệu chứng khi nhiễm nhiều loài virut khác. Sau thời điểm bắt đầu có cơn sốt 2-3 ngày, bệnh nhân có thể có dấu hiệu xuất huyết từ nhẹ đến nặng. Xuất huyết ngoài da (nốt, chấm, mảng xuất huyết), chảy máu chân răng, chảy máu cam... chỉ là những dấu hiệu xuất huyết nhẹ. Có một cách đơn giản để phân biệt nốt xuất huyết với nốt muỗi đốt là dùng hai ngón tay kéo căng vùng da có nốt. Nốt xuất huyết sẽ không bị mất đi, trong khi nốt muỗi đốt sẽ biến mất và xuất hiện lại khi buông ngón tay. Xuất huyết tạng cùng với những biểu hiện của hội chứng sốc, trụy tim mạch cho thấy dấu hiệu tăng nặng của bệnh như: đau bụng, đau tức vùng gan, nôn mửa liên tục, nôn ra máu, tiểu ra máu, đi ngoài phân đen, chân tay lạnh, người vật vã, hoảng hốt... nếu không được cấp cứu và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Do virut Dengue có 4 chủng là DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4, không tạo được miễn dịch chéo, nên trong đời, một người có thể mắc bệnh sốt xuất huyết nhiều hơn 1 lần. Vì người mắc bệnh chỉ có miễn dịch với chủng virut mình đã mắc mà không được đề kháng với 3 chủng còn lại. [[{"fid":"1962","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1116","width":"1600","style":"width: 500px; height: 349px;","class":"media-element file-default"}}]] Một số lưu ý khi điều trị Hiện tại, do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên phương pháp điều trị chủ yếu cho bệnh sốt xuất huyết vẫn là điều trị triệu chứng và nâng cao thể trạng cho bệnh nhân. Người bị sốt xuất huyết nhẹ có thể nghỉ ngơi và được chăm sóc tại nhà. Bệnh nhân nên ăn các món ăn mềm, dễ tiêu như cháo, súp, bù nước, điện giải bằng đường uống từ nước đun sôi, sữa, dung dịch oresol, nước trái cây... Người nhà cần chú ý chăm sóc, theo dõi bệnh nhân lúc sốt cao và ngay khi có bất kỳ dấu hiệu xuất huyết hoặc diễn biến tăng nặng của bệnh phải kịp thời đưa bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu. Thuốc hạ sốt an toàn nhất cho bệnh nhân sốt xuất huyết là paracetamol dạng đơn độc, liều dùng tùy theo lứa tuổi. Liều dùng thông thường là từ 325- 650mg, cứ 4- 6 giờ một lần, không quá 4g một ngày. Liều tương đối theo lứa tuổi như sau: trẻ em < 3 tháng tuổi: 40mg; trẻ 4-11 tháng tuổi: 80mg; trẻ 1- 2 tuổi: 120mg; trẻ 2- 3 tuổi: 160mg; trẻ 4- 5 tuổi: 240mg; trẻ 6- 8 tuổi: 320mg; trẻ 9-10 tuổi: 400mg; trẻ 11 tuổi: 480mg (trung bình 10-15mg/kg thể trọng). Những thuốc giảm đau hạ sốt nhóm giảm đau chống viêm không steroid (NSAIDs) khác như ibuprofen, naproxen, diclofenac, acid mefenamic, aspirin... do có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu, khi uống gây nguy cơ xuất huyết tiêu hóa và xuất huyết tạng nặng hơn nên không được khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân sốt xuất huyết. Việc dùng kháng sinh với bệnh nhân sốt xuất huyết là điều hoàn toàn không cần thiết. Lý do bởi sốt xuất huyết là bệnh do virut gây ra, trong khi các kháng sinh chỉ có tác dụng kìm hãm và tiêu diệt vi khuẩn. Dùng kháng sinh không đúng cách ở bệnh nhân sốt xuất huyết thậm chí có thể làm tăng độc tính trên gan, thận, gây ảnh hưởng tiêu cực tới tình trạng người bệnh. Một điều cần lưu ý khác nữa là không nên cạo gió cho bệnh nhân theo phương pháp dân gian vì cạo gió dùng lực và dầu nóng làm tổn thương cơ và giãn mạch sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân do có thể làm cho tình trạng xuất huyết nghiêm trọng hơn.   Theo Sức khỏe và đời sống

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG GIÚP GIẢM NGUY CƠ UNG THƯ

Việc duy trì chế độ ăn đúng đóng vai trò chìa khóa trong việc làm giảm nguy cơ ung thư. Dưới đây là những lời khuyên trong chế độ ăn uống giúp giảm nguy cơ ung thư. Mặc dù chưa ai biết nguyên nhân chính xác của ung thư, một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lớn các trường hợp tử vong vì ung thư có liên quan tới những lựa chọn lối sống. Cũng giống như hút thuốc, uống rượu và thiếu luyện tập có thể ảnh hưởng tới sức khỏe chung, việc duy trì chế độ ăn đúng đóng vai trò chìa khóa trong việc làm giảm nguy cơ ung thư. Dưới đây là những lời khuyên trong chế độ ăn uống giúp giảm nguy cơ ung thư: [[{"fid":"1956","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"353","width":"655","style":"width: 500px; height: 269px;","class":"media-element file-default"}}]] 1. Ăn thực phẩm tươi mới Ăn nhiều những thực phẩm từ thực vật như hoa quả, rau, ngũ cốc toàn phần, các loại hạt, đậu vv… Bắt đầu ngày mới với hoa quả và các loại hạt. Ăn sáng bằng ngũ cốc. Ăn một khẩu phần lớn sa lát các loại rau như rau diếp, cà chua, dưa chuột trước bữa trưa và trước bữa tối. Ăn nhẹ bằng hoa quả và các loại hạt (hạt hướng dương, hạt lanh, hạnh nhân, quả óc chó)…Nghiên cứu chỉ ra rằng những người ăn ít hoa quả và rau xanh có nguy cơ gấp hai lần bị ung thư so với những người ăn lượng vừa phải hoa quả và rau. Hoa quả đặc biệt giúp bảo vệ chống loại các loại ung thư thực quản, thanh quản và ung thư liên quan đến khoang miệng. Bằng chứng chỉ ra rằng ăn nhiều hoa quả và rau có thể bảo vệ hiệu quả chống lại ung thư tuyến tụy, dạ dày, đại trực tràng, bàng quang, cổ tử ung, buồng trứng và nội mạc tử cung. 2. Tăng cường hấp thu chất xơ Chất xơ là thành phần chính làm giảm nguy cơ ung thư. Tất cả những thực phẩm từ thực vật giàu chất xơ giúp làm sạch hệ tiêu hóa và loại bỏ những chất gây ung thư ra khỏi đường ruột trước khi chúng kịp gây hại cho bạn. Bạn có thể bổ sung chất xơ trong chế độ ăn bằng cách thay thế gạo trắng bằng gạo nâu, ăn hoa quả cả vỏ, lựa chọn bỏng ngô thay vì khoai tây chiên. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hấp thu chất xơ từ chế độ ăn có liên quan tỉ lệ nghịch với nguy cơ ung thư. 3. Tránh thực phẩm chế biến sẵn Càng ăn những thực phẩm dưới dạng nguyên chất, hiệu quả bảo vệ cơ thể càng cao. Ví dụ, thay vì nước nước ép cam, hãy bóc vỏ và ăn cả quả cam. 4. Giảm thịt đỏ và sữa béo nguyên chất Nghiên cứu chỉ ra rằng những người ăn kiêng giảm 50% nguy cơ ung thư so với những người ăn thịt. Điều này là vì thịt và sữa thiếu chất xơ, chất chống oxy hóa và các dưỡng chất có đặc tính bảo vệ chống ung thư và nhiều chất béo bão hòa có liên quan tới tăng nguy cơ ung thư. Nhưng bạn không nên loại bỏ thịt hoàn toàn khỏi chế độ ăn mà chỉ nên hạn chế. Chọn cá hoặc thịt gà nạc vì chúng chứa ít chất béo, tránh thịt chế biến sẵn như xúc xích. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tiêu thụ nhiều thịt chế biến sẵn có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày do nitrosamin có trong chúng. 5. Lựa chọn chất béo một cách thông minh Các chất béo no và chất béo trans gây hại cho sức khỏe vì vậy hãy hạn chế chúng. Chất béo no (chất béo xấu) có trong bơ, trứng, sữa nguyên kem và thịt đỏ, chất béo trans có trong thực phẩm chế biến và đồ ăn vặt như bánh mì kẹp thịt, pizza. Mặt khác, các chất béo không no (chất béo tốt như MUFA và PUFA được tìm thấy trong các loại dầu dạng lỏng như dầu oliu… Các nguồn chất béo không no khác là quả bơ, các loại hạt như óc chó, hạnh nhân. Ngoài ra, tập trung vào axit béo omega-3 để giúp chống viêm và hỗ trợ sức khỏe não và tim. Những nguồn axit béo omega-3 phong phú gồm cá hồi, cá ngừ và hạt lanh. Bạn có thể ăn cá 1 hoặc 2 lần mỗi tuần, cùng với bổ sung hạt lanh vào món sa lát, tránh thực phẩm chiên, kiểm tra thành phần chất béo xấu trên nhãn mác thực phẩm. Nghiên cứu chỉ ra rằng chế độ ăn nhiều chất béo có liên quan tới nguy cơ cao bị ung thư đại trực tràng, với chất béo no được cho là đặc biệt có liên quan. Trong khi đó, đối với ung thư vú, hàm lượng chất béo toàn phần trong cơ thể là một yếu tố nguy cơ. Vì vậy, cần cắt giảm lượng chất béo. 6. Lựa chọn thực phẩm chống ung thư Hệ miễn dịch cần khỏe mạnh để chống lại những tác nhân gây ung thư. Bạn cần ăn những thực phẩm nhiều màu sắc với các chất chống oxy hóa (vitamin A, C, E và selen) và các hóa chất thực vật giúp tăng cường miễn dịch và chống lại bệnh tật. Những thực phẩm như cà chua, súp lơ xanh, các loại rau lá xanh sẫm, nho, nam việt quất, cà rốt, bắp cải, tỏi, hành, nho, việt quất, ớt, các sản phẩm đậu nành như đậu phụ. Trà xanh cũng chứa nhiều chất chống oxy hóa, vì thế thay vì uống trà đen, hãy uống 3 cốc trà xanh mỗi ngày. 7. Uống nhiều nước Tăn cường hấp thu nước giúp loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể và bổ sung dinh dưỡng để tiêu diệt và ngăn ngừa các tế bào ung thư nhân lên. Tránh các đồ uống có đường như cola, nước ép trái cây vì chúng làm tăng tình trạng viêm và nguy cơ phát triển ung thư. 8. Bảo quản chất dinh dưỡng khi chế biến Rửa sạch rau và hoa quả bằng bàn chải để loại bỏ dư lượng thuốc trừ sâu. Ăn sống càng nhiều càng tốt, điều này sẽ giúp giữ lại nhiều chất dinh dưỡng. Luộc rau với ít nước. Tránh đun dầu quá nóng vì nó có thể trở thành chất gây ung thư. 9. Duy trì những thói quen nấu ăn lành mạnh Thay vì chiên, xào, hãy lựa chọn những cách chế biến lành mạnh như bỏ lò, luộc, hấp. Ngoài ra, bảo quản dầu ăn ở nơi tối, mát để tránh giảm mùi vị. Sử dụng lò vi sóng thân thiện với chất lượng tốt để phòng ngừa tương tác vật liệu nhựa với thực phẩm. 10.  Tránh ăn thực phẩm ôi, thiu Tránh những thực phầm ôi thiu, ẩm mốc vì chúng có khả năng chứa aflatoxin, một chất gây ung thư mạnh. Các loại hạt sẽ tươi lâu hơn nếu để trong tủ lạnh hoặc tủ đá.   Theo Sức khỏe và đời sống

Trang