CẤP CỨU (24/24):
02053.898.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THAY KHỚP HÁNG

Phẫu thuật thay khớp háng ngày càng phổ biến và đang được xếp hạng là loại phẫu thuật đặc biệt tại các bệnh viện lớn, các trung tâm chấn thương chỉnh hình. Phẫu thuật thay khớp háng bao gồm lấy bỏ phần chỏm của xương đùi, ổ cối của xương chậu (thay khớp toàn phần) và được thay thế bằng các vật liệu nhân tạo. Sau mổ, bệnh nhân đỡ đau, cải thiện tình trạng vận động của khớp. Thời kỳ đầu, chỉ định phẫu thuật thay khớp háng còn khá hạn chế, chủ yếu tập trung ở những bệnh nhân trên 65 tuổi, viêm khớp háng có đau nhiều, suy giảm chức năng khớp nghiêm trọng, điều trị bằng thuốc không cải thiện. Ngày nay, với những tiến bộ vượt bậc về công nghệ chất liệu, kỹ thuật chế tạo sản xuất khớp nhân tạo, độ bền của khớp ngày càng được nâng cao, kỹ thuật mổ ngày càng được hoàn thiện, do vậy, chỉ định thay khớp háng có xu hướng được mở rộng hơn. Những tổn thương, bệnh lý nào của khớp háng có nguy cơ phải thay khớp? Một số tổn thương, bệnh lý của khớp háng có thể được chỉ định phẫu thuật thay khớp như: Viêm khớp: Gồm  viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp. Bệnh thoái hóa khớp: Thoái hóa khớp nguyên phát và  thoái hóa khớp thứ phát sau: Gãy ổ cối do chấn thương; Trật khớp háng bẩm sinh hoặc thiểu sản khớp; Trật khớp háng do chấn thương; Bệnh Legg-Perthes-Calve; Bệnh paget; Bệnh Hemophilia. Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi liên quan đến: Sau chấn thương hoặc trật khớp; Hoại tử vô căn; Bệnh hồng cầu hình liềm; Có bệnh lý về thận; Sử dụng corticoid liều cao; Người lạm dụng bia, rượu; Người bị bệnh lupus ban đỏ... Viêm mủ khớp háng hoặc cốt tủy viêm do đường máu hoặc sau chấn thương, sau khi điều trị ổn định, hết vi khuẩn. Lao khớp háng đã ổn định Bán trật hoặc trật khớp háng bẩm sinh [[{"fid":"2388","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 259px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo có nhiều tiến bộ. Khớp giả cổ xương đùi Thất bại sau tạo hình khớp háng: Sửa trục xương; Tạo hình ổ cối; Sau thay chỏm; Sau cắt tạo hình cổ; Sau thay khớp háng toàn phần; U vùng cổ, chỏm xương đùi hoặc ổ cối Các rối loạn khớp háng di truyền Trước đây, tuổi chỉ định thay khớp háng thường từ 65-70. Từ những năm 1990s, tuổi chỉ định được mở rộng hơn. Một báo cáo của Brander khi thay khớp háng cho 99 bệnh nhân trên 80 tuổi và già hơn thấy rằng, tỷ lệ gặp biến chứng và thời gian nằm viện không có sự khác biệt so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, kết quả cải thiện chức năng khớp sau mổ là như nhau. Qua đó, Brander cho rằng, tuổi cao không phải là một chống chỉ định của phẫu thuật thay khớp háng. Kết quả kém ở nhóm bệnh nhân cao tuổi dường như liên quan nhiều đến các bệnh lý đi kèm chứ không phải là tuổi. Phẫu thuật thay khớp háng thông thường Phẫu thuật thay khớp háng thông thường được tiến hành bằng một đường rạch da khoảng 10-12cm bên cạnh khớp háng. Các cơ được tách và cắt bỏ một phần chỗ bám vừa đủ cùng bao khớp để làm trật khớp. Sau khi tách rộng phần mềm, toàn bộ các diện khớp được bộc lộ. Phẫu thuật viên sẽ lần lượt lấy bỏ chỏm của xương đùi, lấy hết sụn, doa ổ cối đến xương lành. Cup được đóng chặt vào ổ cối và được cố định bằng 2-3 vít. Một lót bằng nhựa cao phân tử (polyethylene) có bề mặt nhẵn được gắn chặt vào cup giúp khớp chuyển động tự do. Tiếp theo phần ống tủy xương đùi được doa rộng. Một chuôi khớp có gắn chỏm bằng hợp kim đóng chặt vào ống tủy. Trong trường hợp thay khớp có xi-măng, xi-măng được bơm vào giữa xương và kim loại (cup và chuôi khớp) giúp giữ khớp nằm vững cạnh xương. Sau khi khớp được nắn lại, chỏm kim loại chuyển động tự do trong lớp lót nhựa cao phân tử. Bao khớp, cơ và da cân được khâu phục hồi. Phẫu thuật thay khớp háng ít xâm lấn Thay khớp háng ít xâm lấn được các phẫu thuật viên tiến hành bằng 1 hoặc 2 đường rạch da nhỏ hơn. Những bệnh nhân còn trẻ, thể trạng không mập, khỏe mạnh, mong muốn nhanh chóng phục hồi có thể áp dụng kỹ thuật này. Ưu điểm của kỹ thuật ít xâm lấn là vết mổ nhỏ hơn, thẩm mỹ hơn và phục hồi sau mổ nhanh hơn. Tuy nhiên, để thực hiện kỹ thuật này, phẫu thuật viên và êkíp mổ phải có kinh nghiệm và có đủ dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng. Lưu ý: Kiểu loại khớp háng nhân tạo được sử dụng giống như thay khớp háng thông thường. Tuy nhiên, cần có dụng cụ chuyên biệt trong quá trình bộc lộ khớp và cắt các phần của khớp. Các bước tiến hành phẫu thuật thay khớp háng ít xâm lấn giống như thay khớp háng thông thường nhưng quá trình cắt rạch phần mềm được hạn chế hơn. Nếu sử dụng một đường rạch da, đường rạch thường dài khoảng 6-7cm tùy theo độ khó và kích thước người bệnh. Nếu sử dụng hai đường rạch thì kích thước mỗi đường khoảng 4cm (phía trên) và 6cm (phía dưới). Thay khớp háng ít xâm lấn bảo tồn phần mềm tốt hơn nên phục hồi nhanh hơn, nguy cơ trật khớp háng sau mổ thấp hơn. Tuy nhiên, thời gian mổ có thể kéo dài hơn phẫu thuật thông thường, phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm.   Theo Sức khỏe và đời sống

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THAY KHỚP HÁNG

Phẫu thuật thay khớp háng ngày càng phổ biến và đang được xếp hạng là loại phẫu thuật đặc biệt tại các bệnh viện lớn, các trung tâm chấn thương chỉnh hình. Phẫu thuật thay khớp háng bao gồm lấy bỏ phần chỏm của xương đùi, ổ cối của xương chậu (thay khớp toàn phần) và được thay thế bằng các vật liệu nhân tạo. Sau mổ, bệnh nhân đỡ đau, cải thiện tình trạng vận động của khớp. Thời kỳ đầu, chỉ định phẫu thuật thay khớp háng còn khá hạn chế, chủ yếu tập trung ở những bệnh nhân trên 65 tuổi, viêm khớp háng có đau nhiều, suy giảm chức năng khớp nghiêm trọng, điều trị bằng thuốc không cải thiện. Ngày nay, với những tiến bộ vượt bậc về công nghệ chất liệu, kỹ thuật chế tạo sản xuất khớp nhân tạo, độ bền của khớp ngày càng được nâng cao, kỹ thuật mổ ngày càng được hoàn thiện, do vậy, chỉ định thay khớp háng có xu hướng được mở rộng hơn. Những tổn thương, bệnh lý nào của khớp háng có nguy cơ phải thay khớp? Một số tổn thương, bệnh lý của khớp háng có thể được chỉ định phẫu thuật thay khớp như: Viêm khớp: Gồm  viêm khớp dạng thấp và viêm cột sống dính khớp. Bệnh thoái hóa khớp: Thoái hóa khớp nguyên phát và  thoái hóa khớp thứ phát sau: Gãy ổ cối do chấn thương; Trật khớp háng bẩm sinh hoặc thiểu sản khớp; Trật khớp háng do chấn thương; Bệnh Legg-Perthes-Calve; Bệnh paget; Bệnh Hemophilia. Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi liên quan đến: Sau chấn thương hoặc trật khớp; Hoại tử vô căn; Bệnh hồng cầu hình liềm; Có bệnh lý về thận; Sử dụng corticoid liều cao; Người lạm dụng bia, rượu; Người bị bệnh lupus ban đỏ... Viêm mủ khớp háng hoặc cốt tủy viêm do đường máu hoặc sau chấn thương, sau khi điều trị ổn định, hết vi khuẩn. Lao khớp háng đã ổn định Bán trật hoặc trật khớp háng bẩm sinh [[{"fid":"2377","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 259px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Phẫu thuật thay khớp háng nhân tạo có nhiều tiến bộ. Khớp giả cổ xương đùi Thất bại sau tạo hình khớp háng: Sửa trục xương; Tạo hình ổ cối; Sau thay chỏm; Sau cắt tạo hình cổ; Sau thay khớp háng toàn phần; U vùng cổ, chỏm xương đùi hoặc ổ cối Các rối loạn khớp háng di truyền Trước đây, tuổi chỉ định thay khớp háng thường từ 65-70. Từ những năm 1990s, tuổi chỉ định được mở rộng hơn. Một báo cáo của Brander khi thay khớp háng cho 99 bệnh nhân trên 80 tuổi và già hơn thấy rằng, tỷ lệ gặp biến chứng và thời gian nằm viện không có sự khác biệt so với nhóm bệnh nhân trẻ tuổi, kết quả cải thiện chức năng khớp sau mổ là như nhau. Qua đó, Brander cho rằng, tuổi cao không phải là một chống chỉ định của phẫu thuật thay khớp háng. Kết quả kém ở nhóm bệnh nhân cao tuổi dường như liên quan nhiều đến các bệnh lý đi kèm chứ không phải là tuổi. Phẫu thuật thay khớp háng thông thường Phẫu thuật thay khớp háng thông thường được tiến hành bằng một đường rạch da khoảng 10-12cm bên cạnh khớp háng. Các cơ được tách và cắt bỏ một phần chỗ bám vừa đủ cùng bao khớp để làm trật khớp. Sau khi tách rộng phần mềm, toàn bộ các diện khớp được bộc lộ. Phẫu thuật viên sẽ lần lượt lấy bỏ chỏm của xương đùi, lấy hết sụn, doa ổ cối đến xương lành. Cup được đóng chặt vào ổ cối và được cố định bằng 2-3 vít. Một lót bằng nhựa cao phân tử (polyethylene) có bề mặt nhẵn được gắn chặt vào cup giúp khớp chuyển động tự do. Tiếp theo phần ống tủy xương đùi được doa rộng. Một chuôi khớp có gắn chỏm bằng hợp kim đóng chặt vào ống tủy. Trong trường hợp thay khớp có xi-măng, xi-măng được bơm vào giữa xương và kim loại (cup và chuôi khớp) giúp giữ khớp nằm vững cạnh xương. Sau khi khớp được nắn lại, chỏm kim loại chuyển động tự do trong lớp lót nhựa cao phân tử. Bao khớp, cơ và da cân được khâu phục hồi. Phẫu thuật thay khớp háng ít xâm lấn Thay khớp háng ít xâm lấn được các phẫu thuật viên tiến hành bằng 1 hoặc 2 đường rạch da nhỏ hơn. Những bệnh nhân còn trẻ, thể trạng không mập, khỏe mạnh, mong muốn nhanh chóng phục hồi có thể áp dụng kỹ thuật này. Ưu điểm của kỹ thuật ít xâm lấn là vết mổ nhỏ hơn, thẩm mỹ hơn và phục hồi sau mổ nhanh hơn. Tuy nhiên, để thực hiện kỹ thuật này, phẫu thuật viên và êkíp mổ phải có kinh nghiệm và có đủ dụng cụ phẫu thuật chuyên dụng. Lưu ý: Kiểu loại khớp háng nhân tạo được sử dụng giống như thay khớp háng thông thường. Tuy nhiên, cần có dụng cụ chuyên biệt trong quá trình bộc lộ khớp và cắt các phần của khớp. Các bước tiến hành phẫu thuật thay khớp háng ít xâm lấn giống như thay khớp háng thông thường nhưng quá trình cắt rạch phần mềm được hạn chế hơn. Nếu sử dụng một đường rạch da, đường rạch thường dài khoảng 6-7cm tùy theo độ khó và kích thước người bệnh. Nếu sử dụng hai đường rạch thì kích thước mỗi đường khoảng 4cm (phía trên) và 6cm (phía dưới). Thay khớp háng ít xâm lấn bảo tồn phần mềm tốt hơn nên phục hồi nhanh hơn, nguy cơ trật khớp háng sau mổ thấp hơn. Tuy nhiên, thời gian mổ có thể kéo dài hơn phẫu thuật thông thường, phẫu thuật viên phải có kinh nghiệm.   Theo Sức khỏe và đời sống

PHÒNG BỆNH DỄ MẮC LÚC GIAO MÙA

Giao mùa, nóng ban ngày, lạnh về sáng và đêm, kết hợp với độ ẩm giảm dần, không khí khô hanh. Do nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch nhau nhiều nên cơ thể phải thay đổi liên tục để thích nghi, do vậy rất dễ nhiễm bệnh. Bệnh dị ứng Giao mùa, thời tiết khô hanh xuất hiện nhiều dị nguyên trong môi trường như phấn hoa, bụi bông, lông súc vật, khói... là những tác nhân gây các chứng dị ứng như: viêm da dị ứng, mề đay, viêm kết mạc, hen phế quản... Hơn nữa trong phòng làm việc mùa thu hanh khô, các loại bụi từ thiết bị máy móc, thảm trải, mực in dễ phát tán và trở thành tác nhân gây dị ứng. Để phòng bệnh, cần tránh tiếp xúc với những chất gây dị ứng. Giữ vệ sinh cơ thể (nhất là đường mũi họng) và môi trường sống sạch sẽ, tinh thần thoải mái để hạn chế mắc bệnh. Sốt và cảm lạnh Sốt hay gặp trong mùa thu là sốt do virut, biểu hiện dưới các dạng như sốt phát ban, cúm... nền nhiệt độ từ 38,5oC trở lên. Đối tượng dễ mắc bệnh là người già và trẻ em do sức đề kháng yếu. Triệu chứng thường gặp và dễ nhận biết khi mắc sốt do virut là sốt, hắt hơi liên tục, chảy nước mắt nước mũi, đỏ mắt, đau nhức cơ, khớp, đau đầu... Nếu ở thể nhẹ, người bệnh có thể sốt từ 3-5 ngày, sau đó tự khỏi. Ở thể nặng hơn người bệnh sốt ly bì 5-7 ngày và dễ gặp các biến chứng viêm long đường hô hấp cấp trên, viêm phổi... Sốt virut lây truyền nhanh qua đường hô hấp (ho, hắt hơi) nhất là trong môi trường tập thể: trường học, công sở, nơi công cộng. Để phòng tránh sốt virut, cần giữ vệ sinh cá nhân tốt, thường xuyên vệ sinh răng miệng bằng nước muối hoặc nước súc miệng fluor. Do thời tiết nóng lạnh thất thường, độ ẩm không khí cao nên cần phải giữ ấm cơ thể, nhất là vùng cổ và ngực. Đặc biệt là vào lúc sáng sớm và buổi tối hay khi ngủ. Lưu ý: Sốt do cúm thường lạnh từ bên trong cơ thể ra, do đó không nên mặc quần áo quá dày, không đắp nhiều chăn. Cho người bệnh uống nhiều nước, ăn nhiều hoa quả. Tăng cường chế độ dinh dưỡng, cung cấp cho cơ thể đủ lượng calo cần thiết để tăng sức đề kháng, nên ăn thức ăn khi còn ấm. Năng tập luyện nâng cao sức khỏe phòng chống bệnh tật. Giữ trong, ngoài nhà sạch sẽ, thoáng mát, thông khí tốt. Khi ốm sốt vẫn cần lau rửa, tắm giặt, vệ sinh mũi họng, cơ thể hằng ngày sạch sẽ. Cảm lạnh là bệnh hay gặp ở mùa đông nhưng cũng dễ mắc vào mùa thu khi đi ngoài trời bị mưa ướt, nằm ngủ bật quạt thốc thẳng vào đầu và người, hoặc khi thời tiết thay đổi. Dấu hiệu bị cảm lạnh là nhức đầu, nóng sốt, ớn lạnh, đau ê ẩm toàn thân, đau họng, ho... [[{"fid":"2373","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 282px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Trong những ngày chuyển sang thu, số trường hợp nhồi máu cơ tim gia tăng. Bệnh tim mạch Trong những ngày thu, thời tiết nóng lạnh thất thường, số trường hợp bị  nhồi máu cơ tim gia tăng, kể cả nguy cơ đột quỵ cũng tăng. Những người có vấn đề về tim mạch sẽ càng tăng nguy cơ bị bệnh suy tim. Đó là do, khi thay đổi thời tiết đột ngột, cơ thể cũng phải thay đổi để thích ứng với thời tiết, từ đó có thể làm quá tải hệ thống tim mạch. Ngay cả những người khỏe mạnh cũng nên đề phòng chứng tăng huyết áp, khó thở, tim đập nhanh, do sự thay đổi nhiệt độ dễ gây ra những cơn co thắt nhiều ở mạch máu. Để phòng ngừa bệnh tim mạch, nên chú ý đến chế độ dinh dưỡng nhiều rau xanh, hoa quả và cá, hạn chế chất béo có hại, không hút thuốc và chăm chỉ thể dục. Nếu thấy có vấn đề về tim mạch hay huyết áp, cần chú ý theo dõi, đi khám bác sĩ để điều chỉnh hoạt động của tim mạch và huyết áp, ngăn ngừa bệnh, không nên để đến khi bị bệnh trầm trọng mới điều trị. Nhóm bệnh đường hô hấp Viêm đường hô hấp trên (viêm họng, VA, amidan) cấp tính và mạn tính: Khi viêm hô hấp cấp tính gây sốt cao kèm  ho, hắt hơi, chảy nước mũi, nghẹt mũi, thay đổi giọng, niêm mạc họng đỏ (trẻ em nôn nhiều, quấy khóc). Nếu không kịp thời chữa trị dứt điểm sẽ diễn tiến thành viêm phế quản, viêm phổi và chuyển thành mạn tính. Viêm đường hô hấp dưới: Viêm phế quản là bệnh rất nhạy cảm, khó thích ứng với biến đổi thất thường của khí hậu, trẻ em càng dễ mắc. Bệnh gây khó thở, khò khè, ho nhiều về đêm và sáng, có đờm,... Nên sớm tới bác sĩ để được dùng thuốc thích hợp vì bệnh khó khỏi hẳn, dễ tái phát. Viêm thanh quản, khí quản, tiểu phế quản, phổi ít gặp hơn nhưng khi mắc thường hay bị nặng. Mùa này 3 loại virut cúm A, B, C gây bệnh viêm đường hô hấp cấp bùng phát mạnh, trong đó cúm A dễ tạo thành dịch, biến chứng có thể gây viêm xoang cấp, viêm tai giữa. Các chứng bệnh viêm phổi, viêm tắc thanh quản và khí quản gây ho nhiều và dữ dội về ban đêm, thờ khò khè, thậm chí ớn lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn và nôn... Các triệu chứng này biểu hiện bệnh đã nặng, cần đi khám chữa ngay, không nên tự chữa ở nhà, nhất là đối với trẻ nhỏ. Vấn đề về tiêu hóa Vào mùa thu, sức đề kháng của cơ thể giảm nên khó chống lại ảnh hưởng của các vi khuẩn gây bệnh, do đó, hệ tiêu hóa càng bị ảnh hưởng nặng nề, nguy cơ loét dạ dày tá tràng tăng. Các chứng bệnh như đầy hơi, chậm tiêu, hội chứng ruột kích thích cũng luôn gây khó chịu cho mọi người. Để giảm nguy cơ mắc các chứng bệnh về tiêu hóa, nên có chế độ ăn uống khoa học: đúng giờ, không bỏ bữa, không hút thuốc. Nên loại bỏ khoai tây chiên và thịt băm viên, chả cá cũng như thức ăn hun khói, thức ăn quá cay, quá béo, trà và cà phê đặc, sôcôla và tuyệt đối kiêng rượu. Nên ăn các loại thịt nạc và cá để cung cấp chất đạm cho cơ thể.   Theo Sức khỏe và đời sống

CÁCH PHÁT HIỆN VÀ XỬ TRÍ THOÁT VỊ BẸN Ở TRẺ EM

Thoát vị bẹn gặp khá phổ biến ở trẻ em mà nguyên nhân là do còn ống phúc tinh mạc. Đây là bệnh phải xử trí bằng ngoại khoa... Thoát vị bẹn gặp khá phổ biến ở trẻ em mà nguyên nhân là do còn ống phúc tinh mạc. Đây là bệnh phải xử trí bằng ngoại khoa, do đó, các bậc cha mẹ khi phát hiện các dấu hiệu bệnh cần phải được khám và điều trị đúng đôi khi cần phẫu thuật càng sớm càng tốt. Cần phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh Trước khi tới bệnh viện để khám bệnh, gia đình thường phát hiện có một khối phồng ở vùng bẹn, bìu với trẻ trai và vùng mu-môi lớn ở trẻ gái. Khối phồng này thường có từ nhỏ, có thể có ngay khi ra đời. Khối phồng này to lên khi trẻ ho, khóc, chạy nhảy và thường tự mất khi nằm yên, khi ngủ. Trẻ thường được đưa đi khám ở tình trạng  đau, nôn, khối thoát vị không lên được. Nắn vào vùng ống bẹn - bìu để tìm túi thoát vị: sờ được túi thoát vị, bảo bệnh nhân ho, chạy nhảy thì bao thoát vị lại căng, to và chuyển động dọc theo ống bẹn xuống bìu.Trong túi thoát vị có chứa một khối mềm, nắn không đau, có khi nghe thấy tiếng lọc xọc của hơi và dịch trong lòng ruột. Có thể đẩy túi thoát vị vào ổ bụng được (bên trong túi thoát vị có mạc nối lớn hoặc ruột hoặc buồng trứng ở trẻ gái). Cũng có khi không đẩy túi thoát vị vào ổ bụng được và bệnh nhân đau vùng ống bẹn, kèm theo có thể nôn, bụng trướng, không trung-đại tiện bởi thoát vị bẹn bị nghẹt. Bằng khám lâm sàng đơn thuần, có thể phân biệt được với một số bệnh khác như: xoắn tinh hoàn,  viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tấy  vùng ống bẹn-bìu, nang thừng tinh khi nang ở vị trí cao, tràn dịch màng tinh hoàn, u mỡ… là những bệnh cũng hay gặp ở vùng bẹn-bìu và phải chữa trị. [[{"fid":"2367","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 377px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Có một số tình huống đặc biệt cần biết để chẩn đoán đúng bệnh và biết cách chữa trị đúng như: Thoát vị bẹn 2 bên ở trẻ gái: cần phải làm nhiễm sắc thể giới tính hoặc gene biệt hoá tinh hoàn để xác định giới tính thật của bệnh nhân. Nếu nhiễm sắc thể giới tính là 46 XY hoặc gen biệt hoá tinh hoàn dương tính thì phải khám toàn diện để xác định đây là nam lưỡng giới giả  ở hội chứng không nhạy cảm với Androgen hay hội chứng tinh hoàn nữ hoá (ngoại hình và bộ phận sinh dục ngoài trông như nữ, nhưng âm đạo ngắn, không có tử cung, không có buồng trứng mà có 2 tinh hoàn trong ổ bụng hoặc ống bẹn). Bệnh nhân là nam nhưng trông như nữ và thường được đặt tên con gái. Nếu vì điều kiện không làm được nhiễm sắc thể giới tính thì khi mổ chữa, bắt buộc phải kiểm tra tuyến sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng. Nam giới có tử cung: phát hiện lúc mổ mở bao thoát vị. Cần phải thăm dò cơ quan sinh dục trong, làm các xét nghiệm nội tiết, nhiễm sắc thể giới tính. Các biến chứng nếu không được điều trị kịp thời Nghẹt hoại tử ruột: Khoảng 20% bệnh nhân có thể bị nghẹt ruột ở bất kỳ tuổi nào nhưng thường bị ở trẻ nhỏ và khoảng 60% số bị thoát vị nghẹt hay xảy ra trong 3 tháng đầu sau đẻ; Rối loạn tiêu hoá, gây chậm lớn ở trẻ nhỏ; Bệnh còn là yếu tố thuận lợi gây xoắn tinh hoàn, teo tinh hoàn, nghẹt bó mạch thừng tinh gây hoại tử tinh hoàn. Nhiều gia đình bệnh nhân biết con mình có bệnh nhưng nghĩ bệnh sẽ tự khỏi khi trẻ lớn lên. Chúng tôi đã mổ nhiều trường hợp bệnh nhân tới khám chữa muộn khi bị nghẹt ruột, có trường hợp bị hoại tử ruột và có bệnh nhân bị nghẹt hoại tử cả tinh hoàn cùng bên. Điều trị thoát vị bẹn như thế nào? Khi đã có chẩn đoán là thoát vị bẹn, cần được phẫu thuật. Nếu chưa mổ ngay được thì làm băng ép bên bị thoát vị và mổ sớm theo chương trình như bán cấp cứu. Với kỹ thuật mổ hiện nay, bệnh nhân sẽ có được vết mổ nhỏ, nằm theo nếp lằn bụng dưới nên thẩm mỹ đẹp. Thời gian nằm viện điều trị trung bình là hai ngày. Lời khuyên thầy thuốc Khi phát hiện thấy các khối u vùng bẹn, bẹn-bìu ở trẻ trai hoặc bẹn-môi lớn ở trẻ gái phải nghĩ tới bệnh - tật do còn tồn tại ống phúc tinh mạc và tới khám tại các chuyên khoa phẫu thuật nhi. Đây là bệnh thường gặp ở trẻ sinh thiếu tháng nên các bậc cha mẹ cần đặc biệt chú ý hơn ở những trẻ này. Quan niệm bệnh “Không sao cả, bệnh sẽ khỏi khi trẻ lớn lên” là quan điểm sai lầm. Cũng không nên chờ trẻ lớn mới phẫu thuật mà ngược lại cần được mổ càng sớm càng tốt.   Theo Sức khỏe và đời sống

PHÒNG BỆNH LÚC GIAO MÙA NHƯ THẾ NÀO?

Lúc giao mùa thời tiết thay đổi (nắng nóng, mưa), theo đó bệnh tật luôn rình rập, bắt gặp ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là người cao tuổi (nct) vì sức đề kháng đã suy giảm. vì vậy, nct cần chú ý đề phòng. Một số bệnh thường gặp lúc giao mùa Khi thời tiết giao mùa, NCT dễ bị nhiễm bệnh hoặc bệnh tái phát do hệ miễn dịch đã suy giảm. Một số bệnh cấp tính có thể xuất hiện như viêm đường hô hấp trên (họng, mũi, thanh quản, xoang), đặc biệt là các bệnh đường hô hấp dưới (viêm khí, phế quản, viêm phổi, hen suyễn). Các bệnh này này nếu không phát hiện hoặc điều trị ngay có thể dẫn đến mạn tính hoặc nguy hiểm cho tính mạng, nhất là bệnh viêm phổi, hen suyễn. Một số bệnh mạn tính (viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, khí phế thũng, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hoặc bệnh tâm phế mạn) khi chuyển mùa, bệnh có thể tái phát bởi sức đề kháng kém hoặc do dùng thuốc không thường xuyên hoặc cả hai. Bệnh xương khớp (viêm khớp, thoái hóa khớp, thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, bệnh gút…) cũng là loại bệnh gây bất ổn cho NCT khi thời tiết chuyển mùa. Thời tiết lúc chuyển mùa cũng có thể làm cho NCT mắc các bệnh các bệnh về đường tiết niệu hoặc bệnh đường tiết niệu mạn tính tái phát. Chuyển mùa, nhất là nắng mưa thất thường, đột ngột cũng có thể làm cho bệnh huyết áp tăng đột ngột, lý do này rất dễ dẫn đến tai biến mạch máu não. [[{"fid":"2365","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Nước trái cây rất có ích cho sức khỏe người cao tuổi Chuyển mùa tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật phát triển mạnh, do đó thực phẩm, rau xanh, nước sinh hoạt rất dễ bị ô nhiễm, nếu không cẩn thận có thể mắc các bệnh về đường tiêu hóa nhất là rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy do sức đề kháng của NCT đã suy giảm. Do nắng nóng, đôi khi mưa làm cho loài muỗi dễ phát triển mạnh, nếu ở vùng đang có các bệnh lây truyền bởi muỗi (sốt xuất huyết, sốt rét…), chủ quan không nằm màn trong khi sức đề kháng của cơ thể yếu, NCT có thể mắc bệnh sốt xuất huyết hoặc sốt rét. Phòng bệnh như thế nào? Vì NCT sức đề kháng ngày một kém dần cho nên bệnh tật theo đó mà xuất hiện hoặc tăng nặng thêm, vì vậy, cần nâng cao sức đề kháng cho cơ thể là hết sức cần thiết băng đảm bảo ăn uống hợp lý, đủ chất. Mặc dù nắng nóng gây mệt mỏi nhưng không nên bỏ bữa và cần uống nhiều nước, ngày uống khoảng từ 1,5 - 2,0 lít (uống ít một, không uống liền một lúc) và nên uống thêm nước trái cây (cam, chanh), nước ép các loại quả (dưa hấu, xoài, bơ …). Cần ăn thêm rau trong các bữa ăn chính (su hào, rau muống, cải, giá đậu) bởi vì, các nguồn sinh tố, chất xơ có trong rau, quả là rất có ích cho sức khỏe NCT. Tuyệt đối không ăn rau sống, không ăn thịt chưa nấu chín hoặc thực phẩm đã ôi thiu và không uống nước chưa đun sôi. Khi ngủ cần nằm màn (ban ngày và ban đêm), tích cực diệt muỗi và bọ gây (lăng quăng) và nên vận động mọi người trong gia đình cùng thực hiện bằng mọi biên pháp từ dân gian (xua, vợt…) đến dùng hoá chất (phun muỗi, hương muỗi, tẩm màn bằng hóa chất).   Theo Sức khỏe và đời sống

KIỂM SOÁT HUYẾT ÁP BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN

Với những bệnh nhân mắc bệnh tăng huyết áp, ngoài việc tuân thủ theo điều trị của bác sĩ thì một chế độ dinh dưỡng khoa học có ý nghĩa rất quan trọng. Chế độ ăn nhiều natri là nguyên nhân quan trọng gây tăng huyết áp. Cho đến nay, nhiều nghiên cứu dịch tễ học cho thấy một chế độ ăn hạn chế natri, giàu canxi, kali và magie, uống rượu mức trung bình, không hút thuốc lá, năng lượng ăn vào vừa phải có thể làm giảm tăng huyết áp. Ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch và không nên sử dụng thuốc lá dưới bất kỳ hình thức nào. Các nghiên cứu đã cho thấy huyết áp gia tăng đáng kể theo từng điếu thuốc lá. Người hút thuốc sẽ không được bảo vệ đầy đủ khỏi nguy cơ tim mạch dù có dùng thuốc chống tăng huyết áp. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tăng huyết áp là do béo phì. Thừa cân béo phì có thể ảnh hưởng đến mức huyết áp ngay từ nhỏ và là yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp, giảm cân khoảng 5kg giúp giảm được huyết áp. Hoạt động thể lực: tập thể dục thường xuyên như đi bộ nhanh hoặc bơi lội 30 - 35 phút, 3 - 4 lần/tuần. Thể dục nhẹ nhàng như vậy có hiệu quả trong việc hạ huyết áp hơn là tập thể dục mạnh như chạy bộ và có thể hạ huyết áp tâm thu khoảng 4 - 8mmHg, nên tránh mang vác các vật nặng. Yếu tố tâm lý và stress: yếu tố cá tính và stress cùng với lối sống ít lành mạnh thường đi kèm với tăng huyết áp và yếu tố nguy cơ tim mạch gia tăng. [[{"fid":"2355","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 354px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Người tăng huyết áp nên tăng cường ăn rau xanh và hoa quả tươi, uống sinh tố trái cây để cung cấp đủ vitamin và khoáng chất giúp trung hòa và đào thải natri ra khỏi cơ thể. Nguyên tắc chung trong chế độ ăn kiểm soát huyết áp Bệnh nhân tăng huyết áp thực hiện các nguyên tắc chính của chế độ ăn “3 giảm” (giảm lượng muối ăn vào; giảm chất béo nhất là chất béo từ động vật; giảm uống rượu bia); “3 tăng” (tăng sử dụng thực phẩm giàu canxi; giàu kali và giàu các chất bảo vệ như các loại rau xanh, khoai củ, đậu đỗ và trái cây); xây dựng lối sống “1 tăng, 1 giảm và 1 bỏ” (tăng vận động, giảm căng thẳng và bỏ thuốc lá) cụ thể như sau: Ăn giảm muối hơn bình thường, nên sử dụng dưới 6g/ngày. Hạn chế calo ăn vào, nhất là với những người quá béo, những người không béo chỉ nên ở mức 35 - 40kcal/kg cân nặng. Giảm lipid trong khẩu phần, nhất là với những người có vữa xơ động mạch, nên ở mức 25 - 40g/ngày. Nên dùng lipid thực vật, tức là các loại dầu và các hạt có dầu. Protein nên giữ ở mức 60 - 70g/ngày, không nên ăn quá nhiều protein động vật. Glucid: 300 - 350g/ngày, nên dùng các hạt ngũ cốc không xay xát kỹ. Hạn chế  các loại đường và bánh kẹo. Tỷ lệ % năng lượng giữa các chất: protein: 12 - 15% năng lượng khẩu phần; lipid: 15 - 20% năng lượng khẩu phần; glucid: 65 - 70% năng lượng khẩu phần. Không hút thuốc lá vì nicotin làm co mạch ngoại vi. Ăn nhiều rau xanh và trái cây, vì chứa nhiều kali, canxi, magiê và các vitamin, nhất là các loại rau quả giàu vitamin C, E, bêta caroten... Nước uống vừa phải, nên uống chè sen, chè hoa hoè, nước râu ngô, nước rau luộc. Những thức ăn nên dùng Gạo tẻ, gạo nếp, các loại khoai và các loại đậu đỗ, lạc, vừng. Thịt ít mỡ như: thịt bò, thịt gà ta, thịt lợn nạc... Trứng: Nên ăn trứng gà vì trứng gà có ít lipid hơn trứng vịt. Sữa: nên ăn các loại sữa tách bơ, sữa đậu nành, sữa chua. Cá, tôm, cua các loại. Tăng cường ăn rau xanh và hoa quả tươi, uống sinh tố trái cây để cung cấp đủ vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể. Các chất xơ trong rau quả còn có tác dụng loại bỏ những chất béo dư thừa ra ngoài cơ thể theo đường tiêu hóa, giúp phòng chống bệnh xơ vữa động mạch. Các thực phẩm: rau diếp, rau cải xoăn, cải bó xôi, chuối chín, khoai tây... chứa hàm lượng kali cao giúp trung hòa và đào thải natri ra khỏi cơ thể, từ đó có tác dụng hạ huyết áp. Có thể ăn trực tiếp hoặc ép lấy nước, hay làm sinh tố các loại quả tốt chứa nhiều vitamin A và C như: cam, quýt, bưởi, bơ, đu đủ... Tích cực ăn tỏi hàng ngày. Người bệnh không nên ăn gì? Thịt nhiều mỡ, mỡ, nước xương thịt ninh; các loại cá béo; các loại phủ tạng: thận, óc, tim, gan, lòng... vì có nhiều cholesterol. Nước chè đặc, cà phê, thuốc lá, ớt quá cay. Các thức ăn muối mặn: cà mặn, dưa mặn... Đường và các loại bánh, mứt, kẹo...   Theo Sức khỏe và đời sống

NGỒI HỌC ĐÚNG TƯ THẾ, TRÁNH CONG VẸO CỘT SỐNG

Trẻ bị vẹo cột sống đang có xu hướng gia tăng ở nước ta do rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Bệnh cong vẹo cột sống (CVCS) gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống… Tác hại của cong vẹo cột sống Cong vẹo cột sống mức nhẹ thường ít gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm, cong vẹo cột sống có thể tiến triển nặng và gây ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống sau này. Cong vẹo cột sống là một trong những nguyên nhân gây ra chứng đau lưng; hạn chế vận động của hệ thống cơ xương. Trường hợp bệnh nặng có thể gây rối loạn tư thế, dị dạng thân hình, tác động xấu đến tâm lý của trẻ, hạn chế khả năng hòa nhập cộng đồng; ảnh hưởng đến chức năng của tim, phổi (giảm dung tích sống của phổi); gây biến dạng xương chậu, ảnh hưởng đến quá trình sinh đẻ của trẻ em gái khi trưởng thành. Một số nghiên cứu trên thế giới còn cho thấy, cong vẹo cột sống có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của người bệnh. Qua theo dõi 130 bệnh nhân bị vẹo cột sống không được điều trị từ năm 1930 đến năm 1968, người ta nhận thấy, tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân bị cong vẹo cột sống tăng 2 lần so với quần thể. Nếu chỉ tính riêng vẹo cột sống vùng ngực, tỷ lệ tử vong tăng cao gấp 4 lần, 37% bệnh nhân bị đau lưng, 14% bị các triệu chứng về tim phổi, 37% bị tàn tật với những biến dạng khác. [[{"fid":"2339","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 500px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Hình ảnh cột sống bình thường và cột sống bị cong vẹo. Nguyên nhân dẫn đến CVCS Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cong vẹo cột sống, trong đó 90% trường hợp cong vẹo cột sống là không rõ nguyên nhân. Các nhà khoa học đã xác định được một số nguyên nhân gây cong vẹo cột sống là do bệnh cơ, do bệnh thần kinh, do những bất thường bẩm sinh của đốt sống và cột sống, do loạn dưỡng xương, do chấn thương… Cong vẹo cột sống ở trường học thường phát sinh do sự sai lệch tư thế (ngồi học với bàn ghế không phù hợp với chiều cao của học sinh, mang cặp sách quá nặng về một bên tay, vai; chiếu sáng kém, bắt buộc học sinh phải cúi đầu khi đọc, viết hoặc học nghề); do các tư thế xấu (đi, đứng, ngồi không đúng tư thế); cường độ lao động không thích hợp với lứa tuổi… Ngoài ra, cong vẹo cột sống còn có thể do trẻ mắc các bệnh liên quan đến cột sống, thể trạng học sinh kém do ít hoạt động thể thao, suy dinh dưỡng (còi xương) hoặc do ngồi, đi đứng quá sớm. Nhận biết có khó? Khi bị vẹo cột sống, trẻ sẽ có các dấu hiệu bất thường như sau: Gai đốt sống không thẳng hàng; dốc hai vai không đều nhau, bên thấp bên cao; phần xương bả vai nhô ra bất thường; khoảng cách từ 2 mỏm xương đến bả vai không bằng nhau; tam giác eo tạo ra giữa thân và cánh tay có độ hẹp rộng không giống nhau; khi cột sống bị xoáy vặn khiến xương sườn lồi lên, thăn lưng mất cân đối. Nếu bị gù thì quan sát thấy lưng tròn, vai thấp, bụng nhô, đầu ngả ra phía trước. Nếu bị ưỡn, phần trên của thân hơi ngả về phía sau, bụng xệ xuống. Điều trị như thế nào? Khi phát hiện các dấu hiệu bất thường ở cột sống của trẻ, nên cho trẻ đến khám và tư vấn tại phòng khám chuyên khoa để có thể can thiệp kịp thời nếu cần thiết. Điều trị tật vẹo cột sống rất phức tạp và phụ thuộc vào mức độ cong, sự phát triển của cột sống và khả năng phát triển của độ cong. Để có thể quyết định phương pháp điều trị những trường hợp mắc cong vẹo cột sống, các chuyên gia y tế cần phải khám xác định rõ mức độ cong vẹo cột sống của bệnh nhân. Ngoài những quan sát thông thường, bác sĩ sẽ chỉ định cho bệnh nhân chụp X quang. Dựa vào phim X quang, người ta sẽ xác định được độ lớn của góc cong vẹo cột sống (góc Coob). Tùy theo độ lớn của góc Coob và khả năng tiến triển của nó, bác sĩ sẽ chỉ định các bài tập phục hồi chức năng hoặc cho mang áo nẹp. Nếu mức cong vẹo cột sống nặng và tiến triển nhanh, các bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật chỉnh hình. Phẫu thuật là lựa chọn của nhiều bệnh nhân với mong muốn sớm cải thiện đường cong cột sống. Tuy nhiên, phẫu thuật chỉ là giải pháp được chỉ định rất hạn chế khi mức độ vẹo cột sống của bệnh nhân quá nặng. Đặc biệt với các bệnh nhi nhỏ tuổi, phẫu thuật tiềm ẩn khá nhiều rủi ro vì có thể gây shock thuốc, hôn mê, liệt do tổn thương hệ thần kinh… Trên thực tế, đã có rất nhiều bệnh nhân vẹo cột sống có thể khôi phục được đường cong sinh lý của cột sống mà không cần sự can thiệp của phẫu thuật. [[{"fid":"2340","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 392px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Phòng chống cong vẹo cột sống Cải thiện điều kiện vệ sinh trường học Bàn ghế, chiếu sáng nơi học tập, cặp sách các em học sinh mang hàng ngày là những yếu tố nguy cơ gây cong vẹo cột sống ở học sinh. Để đảm bảo tư thế ngồi học đúng, nhà trường, gia đình cần trang bị bộ bàn ghế phù hợp với kích thước cơ thể học sinh. Cần nhắc nhở để tạo thói quen ngồi đúng tư thế: Khi ngồi, hai bàn chân được đặt ngay ngắn, vững chắc trên sàn, giữa cẳng chân và đùi tạo thành 1 góc tối ưu là 90 độ (dao động trong khoảng 75-105 độ), nên để cạnh trước của mặt ghế ăn sâu vào cạnh sau mặt bàn 4-6 cm, lưng có thể tựa vào lưng của ghế để tăng thêm điểm tựa, thân thẳng, đầu và cổ hơi ngả về phía trước, hai tay để ngay ngắn trên mặt bàn. Cần tạo cho trẻ có thói quen ngồi học đúng tư thế. Tư thế ngồi sai không chỉ gây ra cong vẹo cột sống mà có thể dẫn đến những rối loạn cơ xương khác và nguy cơ mắc tật cận thị cao. Nơi học tập ở trường phải đảm bảo ánh sáng từ 300lux trở lên. Ở nhà, ngoài hệ thống chiếu sáng chung, gia đình cũng cần trang bị đèn ở góc học tập cho các em để đảm bảo ánh sáng tốt hơn. Học sinh không mang cặp quá nặng, trọng lượng cặp sách không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể. Cặp phải có hai quai, khi sử dụng học sinh đeo đều hai vai, tránh đeo lệch về một phía. Duy trì chế độ học tập, sinh hoạt hợp lý Học sinh không nên ngồi học, xem ti vi quá lâu, giữa các giờ học (khoảng 35-45 phút) phải có thời gian nghỉ ngơi, thư giãn để giảm gánh nặng thể chất, tăng cường hoạt động vận động ngoài trời. Đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý, tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng của mỗi bữa ăn, nhất là các bữa chính. Đặc biệt cần quan tâm đến các thực phẩm có nhiều can- xi và vitamin D, đây là các yếu tố giúp cho sự phát triển của xương trong giai đoạn phát triển. Đảm bảo thời gian ngủ cần thiết theo từng lứa tuổi. Học sinh từ 7-10 tuổi cần ngủ 11 - 10 giờ; Từ 11-14 tuổi thời gian ngủ là 10 - 9 giờ; Từ 15-17 tuổi thời gian ngủ là 9 - 8 giờ. Khám phát hiện cong vẹo cột sống định kỳ Việc khám cong vẹo cột sống định kỳ sẽ giúp phát hiện sớm các trường hợp cong vẹo cột sống để có thể có cách điều trị kịp thời.   Theo Sức khỏe và đời sống

NHẬN BIẾT, XỬ TRÍ NHIỄM TRÙNG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Nhiễm trùng tiết niệu là một trong những bệnh nhiễm trùng phổ biến nhất ở người cao tuổi. Đáng lưu ý là so với người trẻ tuổi, người cao tuổi có thể gặp các triệu chứng và biến chứng nghiêm trọng hơn. Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) là nhiễm trùng của bất kỳ cơ quan nào trong hệ tiết niệu, bao gồm 2 thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng liên quan đến phần dưới hệ tiết niệu - bàng quang và niệu đạo. Các triệu chứng của nhiễm trùng tiểu có thể bao gồm: Cảm giác buồn tiểu gấp gáp; Đi tiểu thường xuyên hơn, thậm chí có khi chỉ rặn ra được một ít nước tiểu; Có cảm giác nóng rát, đau buốt hoặc khó chịu khi đi tiểu; Có cảm đau tức lưng hoặc bụng dưới; Nước tiểu đục hoặc có mùi bất thường; Có lẫn máu trong nước tiểu; Cảm giác tiểu không hết: Bàng quang không cảm thấy trống rỗng sau khi đi tiểu; Sốt hoặc rét run (dấu hiệu có thể nhiễm trùng đã lan lên thận); Cảm giác mệt mỏi, run rẩy; Cảm thấy buồn nôn; Nôn. Triệu chứng ở người cao niên Người cao tuổi bên cạnh các triệu chứng UTI điển hình ở trên còn có nhiều khả năng lâm vào tình trạng lú lẫn, mê sảng hoặc thay đổi hành vi. Những thay đổi trong hành vi có thể chỉ điểm tình trạng UTI ở người cao tuổi bao gồm: bồn chồn, lo lắng, ảo giác, chán ăn, kích động, lú lẫn hoặc giảm linh hoạt, thậm chí hôn mê. Các triệu chứng không điển hình khác có thể là bí tiểu hoặc tiểu không tự chủ, nước tiểu rỉ ra thường xuyên. Tại sao có các triệu chứng này ở người cao niên? Người ta không chắc chắn tại sao có các triệu chứng bổ sung như lú lẫn hoặc mê sảng xảy ra ở người lớn tuổi. Một giả thuyết cho rằng do các mạch máu cung cấp cho não kém hơn và có thể có nhiều khả năng nhiễm trùng lan truyền đến hệ thần kinh. [[{"fid":"2337","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Nhiễm trùng đường tiểu có thể do vi khuẩn xâm nhập hệ thống tiết niệu qua niệu đạo. Nguyên nhân và các yếu tố tăng nguy cơ cho người cao niên Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) là một bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn hoặc nấm gây nên. Nhiều UTI xảy ra do E.coli, một loại vi khuẩn thường có trong phân và có thể xâm nhập hệ thống tiết niệu qua niệu đạo. Các vi khuẩn khác có khả năng gây ra UTI thường gặp ở người cao tuổi có ống thông tiểu hoặc đang nằm trong bệnh viện hoặc cơ sở chăm sóc như viện dưỡng lão. Các yếu tố làm tăng nguy cơ người cao tuổi mắc UTI bao gồm: Thay đổi hệ thống miễn dịch; Tiếp xúc với các vi khuẩn khác nhau trong bệnh viện hoặc cơ sở chăm sóc; Có sẵn các bệnh khác, chẳng hạn như tiểu không tự chủ; Bị nhiễm trùng tiểu trước đây; Sự thay đổi cách thức hoạt động của hệ thống tiết niệu, chẳng hạn phì đại tuyến tiền liệt ở nam giới; Tình trạng đang đặt ống thông tiểu. Như thế, điều quan trọng là người thân, người chăm sóc người cao tuổi cần phải nhận thức được các yếu tố nguy cơ này và quan sát bất kỳ thay đổi nhận thức nào ở người cao tuổi để phát hiện sớm nhiễm trùng đường tiểu. Biến chứng của UTI ở người cao tuổi Nhiễm trùng tiểu khá là phổ biến, nhưng nếu không được điều trị kịp thời, có khả năng dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Tổn thương thận: Nhiễm trùng tiểu nếu không được điều trị có thể lan đến thận và gây tổn thương thận hoặc bệnh thận. Nhiễm trùng thận là rất nghiêm trọng và cần phải nhập viện điều trị ngay. Nhiễm trùng huyết: Một biến chứng khác của nhiễm trùng tiết niệu là nhiễm trùng huyết. Đây là một biến chứng đe dọa tính mạng, nếu không được điều trị có thể dẫn đến sốc nhiễm trùng và cuối cùng là tử vong. Nhiễm trùng huyết có thể gây ra các biến chứng khác bao gồm rối loạn chức năng nội tạng, đe dọa mất chi và rối loạn đau majn tính. Ngay cả khi đã điều trị nhiễm trùng huyết, các biến chứng vẫn có thể xảy ra. Nếu nghi ngờ có UTI, cần làm xét nghiệm nước tiểu. Nuôi cấy nước tiểu có thể xác định vi khuẩn nào đang gây nhiễm trùng để có điều trị phù hợp Điều trị thế nào? Phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho nhiễm trùng tiết niệu là kháng sinh, tiêu diệt vi khuẩn gây nhiễm trùng. Nếu nguyên nhân gây nhiễm trùng là nấm thì dùng thuốc chống nấm. Điều quan trọng là người bệnh phải dùng thuốc chính xác theo đơn, không tự ý dừng thuốc ngay cả khi cảm thấy hết triệu chứng. Dùng thuốc chống loạn thần: Nếu UTI gây ra tình trạng lú lẫn hay mê sảng nghiêm trọng, có thể sử dụng thuốc chống loạn thần cho đến khi hết nhiễm trùng. Thuốc chống loạn thần làm giảm sự khổ sở, kích động và nguy cơ chấn thương ở người bệnh có triệu chứng này. Kháng sinh tiêm tĩnh mạch: Các trường hợp UTI tiến triển hơn, chẳng hạn như những trường hợp dẫn đến nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng hoặc nhiễm trùng thận, phải nhập viện và dùng kháng sinh tiêm tĩnh mạch. Một tình trạng gọi là nhiễm trùng tiết niệu không triệu chứng (ASB) cũng phổ biến ở người lớn tuổi. Đó là khi xét nghiệm có vi khuẩn trong nước tiểu, nhưng chúng không gây ra bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nhiễm trùng nào. Mặc dù ASB khá phổ biến ở người cao tuổi, nhưng thường không cần điều trị, trừ khi nó gây ra các triệu chứng lâm sàng khác. Có thể ngăn ngừa được UTI? Ngăn ngừa UTI là rất quan trọng đối với những người có nguy cơ mắc bệnh cao, trong đó có người cao tuổi. Các biện pháp ngăn ngừa UTI bao gồm: Uống nhiều nước; Tránh caffein và rượu. Khi đi vệ sinh: Thực hiện nguyên tắc lau từ trước ra sau. Kịp thời thay miếng lót hoặc đồ lót khi ướt (do tiểu không tự chủ). Liệu pháp estrogen âm đạo có thể giúp phụ nữ cao tuổi giảm nguy cơ nhiễm trùng tiết niệu trong và sau khi mãn kinh do viêm teo âm đạo. Nói chung, những người cao tuổi già yếu thường phải phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Hơn nữa, người cao tuổi thường mắc những bệnh đi kèm tuổi già như bệnh mất trí nhớ, Alzheimer làm người bệnh không thể kể cho bác sĩ, người chăm sóc dù họ có các triệu chứng điển hình của UTI. Do vậy, hiểu biết của người chăm sóc rất quan trọng trong việc phòng ngừa UTI cho người cao tuổi.   Theo Sức khỏe và đời sống

Trang