CẤP CỨU (24/24):
02053.898.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

CÁCH ĂN TRÁI CÂY ĐÚNG CHO NGƯỜI TIỂU ĐƯỜNG

Nhiều người mắc bệnh tiểu đường lầm tưởng ăn trái cây là nguyên nhân gây tăng đường huyết nên đã loại bỏ thực phẩm này khỏi chế độ ăn. Một số người lại cho rằng khi mắc bệnh tiểu đường, việc lựa chọn thực phẩm trở nên hạn chế. Những điều này dễ khiến người bệnh suy kiệt, thiếu chất. Đây là những quan niệm hoàn toàn sai lầm trong dinh dưỡng của người tiểu đường. [[{"fid":"1736","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"576","width":"1024","style":"width: 500px; height: 281px;","class":"media-element file-default"}}]] Vậy làm thế nào để vừa kiểm soát tốt đường huyết, lại không bị thiếu chất – nhất là các vitamin và khoáng chất ở mọi bệnh nhân tiểu đường. Câu trả lời là cần bổ sung các loại trái cây hàng ngày trong chế độ ăn. Mặc dù trái cây nhiều đường tự nhiên, nhưng nó là thực phẩm vô cùng cần thiết, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng khác nhau như vitamin, chất xơ, chất chống ôxy hóa, khoáng,... có lợi cho bệnh nhân tiểu đường. Các loại trái cây đều có hàm lượng nước lớn (75-95%), giúp bổ sung lượng nước cần thiết cho cơ thể. Vitamin C trong trái cây giúp tăng cường hệ miễn dịch, chống lại bệnh tật. Tuy nhiên cần lưu ý là trái cây sấy khô bao giờ hàm lượng đường cũng cao hơn nhiều so với trái cây tươi. Những người bị bệnh tiểu đường chỉ có thể ăn một số loại hoa quả nhất định? Đây là một quan niệm sai lầm mà nhiều người mắc phải. Thực tế là một bệnh nhân tiểu đường có thể ăn tất cả các loại trái cây, nhưng với số lượng hạn chế. Vì trái cây cung cấp nước, đường, chất xơ, vitamin C, vitamin nhóm B, chất khoáng canxi, magie, kali... đều rất tốt cho cơ thể. Người bị bệnh tiểu đường nên làm theo các hướng dẫn chung khi ăn trái cây? Không hẳn như vậy. Tiểu đường là một tình trạng phức tạp và mỗi người bệnh tiểu đường được điều trị bằng một phương pháp khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn mắc bệnh, mức độ bệnh và thể trạng của mỗi người... Có loại cây nào được khuyến cáo cho những người có bệnh tiểu đường không? Có. Các loại trái cây có chỉ số đường thấp (GI) có thể là một lựa chọn tốt như táo, cam, dâu tây, chanh và mận. Một số loại trái cây như nho, xoài, chuối, mãng cầu, sầu riêng, mít, vải, nhãn .... có thể được ăn nhưng với số lượng hạn chế (1 hoặc 2 lát) vì chúng có hàm lượng đường cao. Các loại trái cây chua như bưởi, cam, chanh, ổi, táo... có thể ăn với số lượng nhiều hơn. Ngoài ra các chuyên gia dinh dưỡng cũng khuyến cáo thêm người tiểu đường nên tránh ăn trái cây quá chín vì lúc đó lượng đường trong trái cây lên cao nhất. Người mắc bệnh tiểu đường có nên uống nước ép trái cây? Các loại nước ép trái cây không phải là thức uống lý tưởng cho bệnh nhân tiểu đường, thậm chí cả những loại nước ép đóng hộp có ghi nhãn là không đường (sugar-free). Nước trái cây là một trong những nguyên nhân làm lượng đường trong máu tăng đột ngột. Việc nhai bằng miệng làm cơ thế hấp thụ dần lượng đường đưa vào, nếu có sự gia tăng hàm lượng đường nó cũng diễn ra chậm hơn. Ngoài ra việc ăn hoa quả trực tiếp còn làm tăng hàm lượng chất xơ cho cơ thể, giúp chống táo bón, giảm mỡ máu.... Người tiểu đường nên ăn trái cây khi nào? Nếu bệnh nhân tiểu đường ăn trái cây ngay sau bữa ăn trưa hoặc ăn tối có thể làm gia tăng lượng đường trong máu. Phải có khoảng cách ít nhất 2 giờ sau các bữa ăn mới nên dùng trái câyThời gian lý tưởng để ăn trái cây là cuối buổi sáng( khoảng 11 giờ) hoặc chiều (5 giờ). Những lưu ý khi ăn trái cây ở người tiểu đường: - Không ăn nhiều một loại trái cây nhất định, nên ăn đa đạng. - Hạn chế ăn trái cây khô, đóng hộp. - Ăn trái cây xa các bữa ăn chính, nhưng không được thay thế bữa ăn chính. - Nên vừa ăn vừa tự “nghe ngóng” bản thân bởi cơ thể mỗi người thường phản ứng khác nhau tùy thuộc vào mức độ bệnh và thể trạng của mỗi người. - Nên ăn trái cây cắt miếng, không dùng nước ép. - Chỉ nên ăn tối đa 3 lần trái cây mỗi ngày. Theo Sức khỏe và đời sống  

CÁCH XỬ TRÍ KHI TRẺ BỊ SẶC SỮA, CHÁO

Trẻ nhỏ rất dễ bị sặc sữa, cháo khi ăn. Đây là trường hợp có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm và tử vong, cần phải nhanh chóng xử lý đúng. Từ đầu năm 2018 đến nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận một số  trường hợp trẻ bị sặc sữa, cháo khi ăn, trong đó có 2 trường hợp trẻ được đưa đến Bệnh viện trong tình trạng suy hô hấp. Mặc dù được cấp cứu, điều trị tích cực sau vài ngày trẻ vẫn không qua khỏi. Một số trường hợp trẻ tử vong trước khi đến Bệnh viện do không được sơ cứu kịp thời. Khi trẻ bú sữa hoặc mới bắt đầu ăn bổ sung (ăn dặm), phản xạ nhai và nuốt những thức ăn còn kém. Khi ăn, trẻ thường khóc, la hét, ngậm sữa, bột trong khi chơi đùa, khi ngủ hoặc người lớn cố ép trẻ ăn… khiến trẻ bị sặc. Sữa, cháo khi sặc sẽ rơi vào đường thở, gây phản xạ co thắt thanh quản, trẻ sẽ bị ho sặc sụa và khó thở tím tái; thậm chí không khóc được, co giật, nôn mửa… Ngay khi trẻ mới xuất hiện sặc (dấu hiệu ho sặc sụa và khó thở, tím tái,…) cần nhanh chóng xử trí theo các bước: Bước 1: Bế trẻ lên ngay rồi đặt nằm sấp trên một cánh tay, dùng bàn tay đỡ đầu và cổ trẻ hoặc đặt lên đùi, chú ý để đầu trẻ thấp hơn lồng ngực. dùng lòng bàn tay kia vỗ thật mạnh 5-7 cái vào lưng trẻ chỗ giữa hai xương bả vai khiến áp lực trong lồng ngực trẻ tăng đột ngột để tống đẩy dị vật ra ngoài. [[{"fid":"1726","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"265","width":"575","style":"width: 500px; height: 230px;","class":"media-element file-default"}}]] Hướng dẫn sơ cứu trẻ khi bị sặc Bước 2: Nếu trẻ vẫn tím tái phải lật trẻ nằm ngửa bằng cách đỡ đầu trẻ và kẹp giữa hai đầu gối, đầu trẻ thấp hơn thân. Dùng hai ngón tay chỏ và giữa của bàn tay phải ấn mạnh vùng dưới xương ức 5 lần (vùng dưới xương ức là vùng mềm khi ấn xuống sẽ lõm vào). Quan sát vùng mũi họng nếu có dịch thì hút sạch để không ứ đọng trong mũi và miệng trẻ. Bước 3: Nếu dị vật chưa rơi ra, tiếp tục lật người trẻ lại để vỗ lưng như bước 1. Luân phiên vỗ lưng - ấn ngực cho đến lúc dị vật rơi ra khỏi đường thở. Trong khi xử lý bước 1, cần gọi cấp cứu y tế hoặc đưa đến cơ sở y tế ngay. Trong khi chờ đợi cấp cứu vẫn tiếp tục xử lý tiếp các bước sau. Đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kể cả sau khi trẻ đã đỡ vì cháo, bột rơi vào phổi nguy cơ viêm phổi thứ phát có thể đe dọa tính mạng trẻ. Vì vậy cần được khám và theo dõi trong vài ngày tiếp theo. Nguồn: Sức khỏe và đời sống  

TỬ VONG KHÁNG THUỐC CAO HƠN CẢ SỐ NGƯỜI TỬ VONG DO UNG THƯ HÀNG NĂM

Thuốc kháng sinh được coi là một giải pháp cho loài người trong điều trị các bệnh do nhiễm vi khuẩn. Nhờ có thuốc mà chúng ta có thể kiểm soát được nhiều dịch bệnh. Tuy nhiên, hiện nay con người đang sử dụng thuốc kháng sinh chưa hợp lý, lạm dụng thuốc…Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo, đến năm 2050, cứ 3 giây sẽ có 1 người tử vong do các vi khuẩn kháng thuốc. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), với sự phát triển của thương mại và du lịch toàn cầu, các vi sinh vật kháng thuốc có thể lây lan nhanh chóng đến bất kỳ nơi nào trên thế giới. Nếu không có hành động hiệu quả đối phó với tình trạng này, Tổ chức Y tế Thế giới cảnh báo: đến một ngày nào đó, nhiều bệnh truyền nhiễm sẽ trở nên không kiểm soát được, 10 triệu người có thể tử vong mỗi năm do vi khuẩn kháng thuốc. Con số này cao hơn cả số người tử vong do ung thư hàng năm. Ngay từ khi loại kháng sinh đầu tiên penicillin ra đời cách đây gần 1 thế kỉ, cuộc chiến với vi khuẩn kháng thuốc đã bắt đầu. Thực tế cho thấy, một loại thuốc mới được nghiên cứu ra sẽ nhanh chóng bị vi khuẩn kháng lại. Gần đây, tốc độ kháng kháng sinh của vi khuẩn quá nhanh, thuốc mới chỉ có mặt trên thị trường 2 - 3 năm đã bị kháng. Các nhà khoa học đang gấp rút tìm những liệu pháp mới có thể diệt vi khuẩn mà không cần dùng thuốc kháng sinh. Trong lúc này, 2 nguyên tắc quan trọng nhất được nhiều chuyên gia y tế khuyên dùng để kháng sinh phát huy tác dụng là dùng đúng và đủ. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cảnh báo đề kháng kháng sinh là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe, an ninh lương thực và sự phát triển của toàn cầu. Đề kháng kháng sinh có thể ảnh hưởng đến bất kỳ ai, ở mọi lứa tuổi, ở bất kỳ quốc gia nào. Kháng thuốc xảy ra một cách tự nhiên, nhưng lạm dụng thuốc kháng sinh ở người và động vật đang đẩy nhanh tiến trình này. Số lượng các bệnh nhiễm trùng ngày càng tăng, như viêm phổi, lao, lậu và nhiễm khuẩn salmonella đang trở nên khó điều trị hơn khi các loại thuốc kháng sinh được sử dụng để điều trị chúng trở nên kém hiệu quả hơn. [[{"fid":"1705","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"720","width":"504","style":"width: 500px; height: 714px;","class":"media-element file-default"}}]] Đề kháng kháng sinh dẫn đến thời gian nằm viện lâu hơn, chi phí y tế cao hơn và làm tăng tỷ lệ tử vong. Do đó, bác sĩ khuyến cáo: Đối với mỗi cá nhân trong cộng đồng: - Chỉ sử dụng kháng sinh khi được bác sĩ kê toa. - Không bao giờ yêu cầu thuốc kháng sinh nếu bác sĩ nói rằng không cần chúng. - Luôn luôn làm theo lời khuyên của nhân viên y tế khi sử dụng thuốc kháng sinh. - Không bao giờ chia sẻ hoặc sử dụng thuốc kháng sinh dư thừa của người khác. - Ngăn ngừa nhiễm trùng bằng cách thường xuyên rửa tay, chuẩn bị thức ăn hợp vệ sinh, tránh tiếp xúc gần gũi với người bệnh, quan hệ tình dục an toàn và tiêm chủng vắc xin đúng lịch. - Chuẩn bị thức ăn hợp vệ sinh, tuân thủ các nguyên tắc an toàn thực phẩm bao gồm: giữ sạch, tách riêng nguyên liệu sống và chín, nấu kỹ, giữ thức ăn ở nhiệt độ an toàn, sử dụng nước sạch và nguyên liệu tươi sống; và chọn thực phẩm đã được sản xuất mà không sử dụng kháng sinh để thúc đẩy tăng trưởng hoặc phòng ngừa bệnh ở động vật khỏe mạnh. - Quy định và truyền thông việc sử dụng và tiêu huỷ thuốc đúng theo quy định. - Cung cấp thông tin có giá trị về tác động của đề kháng kháng sinh. [[{"fid":"1706","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"720","width":"504","style":"width: 500px; height: 714px;","class":"media-element file-default"}}]] Đối với các bác sĩ và nhân viên y tế: - Ngăn ngừa nhiễm trùng bằng cách rửa tay, dụng cụ và môi trường sạch sẽ. - Chỉ kê đơn và phân phối kháng sinh khi cần thiết, theo phác đồ hiện hành. - Báo cáo tình trạng vi khuẩn đề kháng kháng sinh cho nhóm giám sát. - Nói chuyện với bệnh nhân về cách sử dụng kháng sinh đúng cách, hậu quả đề kháng kháng sinh và nguy cơ lạm dụng thuốc. - Nói chuyện với bệnh nhân về việc phòng ngừa nhiễm trùng như tiêm chủng, rửa tay, quan hệ tình dục an toàn, che mũi và miệng khi hắt hơi. Đối với công nghệ y tế: Để phòng ngừa và kiểm soát sự lây lan của kháng kháng sinh, ngành y tế cần quan tâm đầu tư về nghiên cứu và phát triển kháng sinh mới, vắc-xin, xét nghiệm chẩn đoán và các công cụ khác. Đối với các nhà quản lý và người hành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp: - Chỉ cung cấp thuốc kháng sinh cho động vật dưới sự giám sát nhân viên thú y. - Không sử dụng kháng sinh để thúc đẩy tăng trưởng hoặc phòng ngừa bệnh ở động vật khỏe mạnh. - Chủng ngừa động vật để giảm nhu cầu dùng kháng sinh và sử dụng các thuốc thay thế cho thuốc kháng sinh. - Truyền thông và áp dụng việc thực hành tốt ở tất cả các bước sản xuất và chế biến thực phẩm từ động vật và thực vật. - Cải thiện an toàn sinh học tại các trang trại và ngăn ngừa nhiễm trùng thông qua cải thiện vệ sinh và bảo vệ động vật.     Nguồn Sức khỏe đời sống

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH LOẠN THẦN DO RƯỢU

Việc sử dụng rượu đã trở nên quá mức (lạm dụng) trong cuộc sống sinh hoạt của người dân. Uống rượu thường xuyên gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, trong đó có tình trạng loạn thần. Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn,trung bình mỗi tháng tiếp nhận 15 - 20 trường hợp bệnh nhân điều trị bệnh rối loạn tâm thần do rượu. Đa phần các bệnh nhân đều là nam giới trong độ tuổi 30 – 50 tuổi. Rối loạn tâm thần xảy ra khi cơ thể không đào thải được các độc tố có trong rượu, sẽ gây ứ đọng và tác động đến hệ thần kinh trung ương. Từ đó gây rối loạn chuyển hóa, làm suy giảm chức năng gan, thận; ảnh hưởng vùng cảm xúc, vùng trí nhớ trên của não và khả năng điều khiển hành vi. Ngoài ra, một số người uống rượu thường xuyên, hàng ngày nhưng vì một lý do nào đó khiến họ phải đột ngột ngừng uống cũng sẽ gây loạn thần (hội chứng cai rượu). Người bị loạn thần do rượu thường có biểu hiện run rẩy, hay giật mình hoảng hốt, nói nhảm, hay xuất hiện ảo giác; thậm chí lên cơn co giật, mê sảng,. Trong cơn ảo giác, có thể tấn công bất kỳ ai mà họ nghĩ đang gây hại cho mình hoặc chạy trốn. Đối với trường hợp bệnh nhân chạy trốn thì khi hết cơn hoang tưởng sẽ trở lại trạng thái bình thường [[{"fid":"1703","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Bệnh nhân điều trị loạn thần phải buộc chặt tay, chân để kiểm soát hành vi tấn công người khác Đã có trường hợp bệnh nhân loạn thần nhảy từ tầng cao bệnh viện xuống sân, thậm chí dùng dao đâm người khác bị thương rồi tự cắt cổ tử vong. Khi thấy người nghiện rượu có dấu hiệu loạn thần,cần đưa ngay đến cơ sở y tế để được điều trị đúng cách, không nên tự điều trị tại nhà. Tuy nhiên, điều trị loạn thần và cắt cơn cho người nghiện rượu không khó bằng giai đoạn duy trì và chống tái nghiện. Để không tái nghiện rượu, bản thân người nghiện cần có nghị lực và quyết tâm từ bỏ rượu, đồng thời tuân thủ chế độ điều trị và liệu pháp tâm lý theo hướng dẫn của bác sỹ. Gia đình và xã hội cần kiên trì vận động để người bệnh từ bỏ thói quen uống rượu, không nên kì thị, xa lánh mà cần giúp đỡ để người bệnh tái hòa nhập cộng đồng.

SƠ CỨU ĐÚNG CÁCH KHI BỊ GÃY XƯƠNG

Gãy xương là tai nạn thường gặp trong cuộc sống hằng ngày, nếu không được xử trí kịp thời và đúng cách có thể để lại di chứng tàn phế suốt đời, thậm chí đe dọa tính mạng của nạn nhân.Việc sơ cứu ban đầu kịp thời và đúng cách sẽ giảm được 70% biến chứng do gãy xương. Gãy xương là tình trạng xương bị gãy do lực tác động bên ngoài từ tai nạn sinh hoạt, tai nạn giao thông,…Gãy xương được chia thành gãy xương kín (phần da bên ngoài nơi gãy không bị tổn thương), gãy xương hở (phần da bên ngoài bị tổn thương do đầu xương gãy đâm ra) thường xảy ra ở tay, chân; gãy xương lún (hai xương va vào nhau làm xương gãy bị ép ngắn lại) thường xảy ra ở cột sống. Dấu hiệu gãy xương là sưng, đau, bầm tím, biến dạng, mất chức năng vùng bị thương, xương nhô ra ngoài... Ngay khi phát hiện nạn nhân có dấu hiệu gãy xương, cần đưa ra khỏi vùng nguy hiểm và tiến hành sơ cứu người bị nạn. Đối với trường hợp gãy xương tay: Nếu gãy xương cánh tay, cần để cánh tay bị gãy sát thân mình nạn nhân, cẳng tay vuông góc với cánh tay. Tiếp theo đặt 2 nẹp, nẹp trong từ hố nách tới quá khuỷu tay, nẹp ngoài từ bả vai đến quá khớp khuỷu. Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp ở trên và ở dưới ổ gãy. Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực, cẳng tay vuông góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay, bàn tay để ngửa. Dùng băng rộng bản băng ép cánh tay vào thân mình. Thắt nút phía trước nách bên lành. Nếu gãy xương cẳng tay, cần để cẳng tay bị gãy sát thân mình, cẳng tay vuông góc cánh tay. Lòng bàn tay ngửa. Dùng hai nẹp, nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu tay, nẹp ngoài từ đầu các ngón tay đến quá khuỷu. Dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp bàn tay, thân cẳng tay (trên, dưới ổ gãy).  Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực. [[{"fid":"1694","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 173px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Hướng dẫn sơ cứu gãy xương tay Nếu không thể gấp khuỷu tay được, không nên cố dùng sức để gấp khuỷu tay. Đặt nạn nhân nằm xuống và đặt tay bị thương dọc theo thân. Ðặt một miếng đệm dài vào giữa tay bị thương và thân. Buộc tay bị thương vào cơ thể bằng 3 dải băng rộng bản ở các vị trí quanh cổ tay và đùi, quanh cánh tay và ngực, quanh cẳng tay và bụng. Đối với trường hợp gãy xương chân: Nếu gãy xương cẳng chân, đặt nạn nhân nằm trên mặt phẳng, chân duỗi thẳng, bàn chân vuông góc với cẳng chân. Dùng hai nẹp đặt ở mặt trong và mặt ngoài chân gãy. Nẹp ngoài từ mào chậu(gờ trên cùng của xương chậu) đến quá gót chân, nẹp trong từ bẹn đến quá gót chân. Độn bông vào hai đầu nẹp và phía trong, ngoài của các đầu xương. Buộc cố định hai nẹp với nhau ở các vị trí trên và dưới vùng gãy, trên khớp gối khoảng 3 – 5cm vàbăng số 8 ở cổ chân để cố định bàn chân vuông góc với cẳng chân.Vị trí buộc cần chắc chắn nhưng không quá chặt để đảm bảo lưu thông máu. [[{"fid":"1696","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 373px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Cách sơ cứu gãy xương cẳng chân Nếu gãy xương đùi, đặt nạn nhân nằm trên mặt phẳng, chân duỗi thẳng, bàn chân vuông góc với cẳng chân. Dùng hai nẹp đặt ở mặt trong và mặt ngoài chân gãy. Nẹp ngoài từ hố nách đến quá gót chân, nẹp trong từ bẹn đến quá gót chân. Độn bông vào hai đầu nẹp và mấu lồi của các đầu xương cả bên trong và bên ngoài. Buộc cố định hai nẹp với nhau lần lượt ở các vị trítrên và dưới ổ gãy, dưới khớp gối, ngang mào chậu,ngang ngực, băng số 8 để giữ bàn chân vuông góc với cẳng chân, 3 dây để cố định hai chân vào với nhau ở các vị trí: cổ chân, gối, sát bẹn.Lưu ý, vị trí buộc cần chắc chắn nhưng không quá chặt để đảm bảo lưu thông máu. [[{"fid":"1695","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"text-align: center; width: 500px; height: 347px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Cách sơ cứu gãy xương đùi Đối với trường hợp gãy xương cột sống: Nếu gãy xương cột sống vùng cổ, đặt nạn nhân nằm ngửa trên cáng cứng, cố định nạn nhân vào cáng tại các vị trí trán, qua hàm trên, qua ngực, qua hông, qua đùi, qua khớp gối, qua cẳng chân, hai bàn chân.Giữ thẳng đầu và dùng gối mềm chèn hai bên cổ nạn nhân. Nếu gãy xương cột sống vùng lưng, đặt nạn nhân nằm ngửa trên cáng cứng, giữ đầu nạn nhân nằm thẳng, hai chân thẳng, bàn chân vuông góc với cẳng chân. Dùng dây cố định nạn nhân vào cáng và cố định hai chân của nạn nhân vào nhau ở các vị trí: hông, đùi, đầu gối, cẳng chân và bàn chân. Dùng gối mềm hoặc chăn chèn hai bên hông nạn nhân. [[{"fid":"1697","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 244px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Sơ cứu gãy xương cột sống Tất cả các trường hợp gãy xương, sau khi sơ cứu cố định vùng xương bị gãy, cần nhẹ nhàng và nhanh chóng vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được điều trị kịp thời.

PHÒNG BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP CHO TRẺ TRONG MÙA ĐÔNG

Thời tiết chuyển lạnh dần làm gia tăng các bệnh đường hô hấp ở trẻ em. Trong khoảng 3 tháng trở lại đây, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận 578 trường hợp trẻ em mắc bệnh về hô hấp, tăng 30% so với 3 tháng trước đó. Các bệnh hô hấp thường gặp ở trẻ là viêm mũi, họng cấp; viêm Amidan; viêm phế quản; viêm phổi,…nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong. [[{"fid":"1684","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"493","width":"638","style":"width: 500px; height: 386px;","class":"media-element file-default"}}]] Viêm mũi, họng cấp là bệnh thường gặp nhất ở trẻ. Khi mắc bệnh trẻ có các triệu chứng ho, sốt, mệt mỏi, hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi. Một số trẻ có thể bị đau bụng, nôn ói, tiêu chảy. Viêm Amidan: khi thời tiết thay đổi, trẻ rất dễ bị viêm Amidan. Biểu hiện của bệnh là đau họng, những cơn sốt tái đi tái lại, sưng amidan, có thể xuất hiện nhiều mủ trắng nằm trong Amidan. Khi bị viêm Amidan, trẻ thường chán ăn, nuốt khó, nôn ói, quấy khóc, khó chịu. Bệnh này không khó phát hiện nếu như phụ huynh chú ý tới các biểu hiện của trẻ. Viêm phế quản cấp, viêm phổi: bệnh có những triệu chứng sốt, chảy nước mũi, ho, rát họng. Ho nhiều vào ban đêm và có thể kèm theo đau ngực. Một số trẻ có thể không sốt mà hạ thân nhiệt. Biểu hiện là trẻ thở nhanh, ho, có thể thở khò khè, xuất tiết nhiều đờm, một số trẻ có thể bị sốt cao, thở mệt, bệnh có thể gây tử vong cho trẻ nếu không được phát hiện và điều trị sớm. Phòng các bệnh đường hô hấp ở trẻ - Để bảo vệ sức khỏe cho trẻ nhỏ mùa lạnh, cần giữ ấm cho trẻ (quàng khăn, đi tất, đội mũ, đeo khẩu trang…). - Đảm bảo cho trẻ bú mẹ sau khi sinh càng sớm càng tốt, cho trẻ ăn đầy đủ dinh dưỡng, uống nước ấm. - Giữ vệ sinh cá nhân cho trẻ. Hướng dẫn trẻ cách giữ gìn vệ sinh, rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh để phòng bệnh. Chú ý đến nhiệt độ cơ thể trẻ bởi khi chơi đùa, khi ngủ do trẻ thường ra nhiều mồ hôi, tránh để trẻ mặc áo ướt mồ hôi. Giữ trẻ ở nơi thông thoáng, sạch sẽ. - Không nên để khói bếp, thuốc lá ảnh hưởng đến phòng chăm sóc, sinh hoạt của trẻ. - Cho trẻ đi tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch, đặc biệt là các mũi tiêm phòng bệnh đường hô hấp. Vệ sinh mũi, họng cho trẻ bằng nước muối loãng (Natri Clorid 0,9%). Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với người đang mắc các bệnh hô hấp. - Khi trẻ có các dấu hiệu mắc bệnh đường hô hấp, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để khám và điều trị. Chỉ sử dụng thuốc theo đơn của bác sĩ, không tự ý mua thuốc điều trị cho trẻ tại nhà, nhất là các loại kháng sinh.

“GIỜ VÀNG” CỦA NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ NHỒI MÁU NÃO

Nhồi máu cơ tim, nhồi máu não là những bệnh nguy hiểm, tỷ lệ mắc ngày càng tăng nhanh, nguy cơ tử vong cao hoặc tàn phế. Nếu nhận biết sớm và được xử trí trong vòng 12 giờ đầu tiên khi bị bệnh nhồi máu cơ tim và 6 giờ đầu khi bị nhồi máu não, tỷ lệ cứu chữa thành công rất cao. Nhiều trường hợp hồi phục hoàn toàn hoặc tránh được tử vong, tàn phế nặng. Nhồi máu cơ tim, não là hiện tượng nhánh động mạch nuôi tim, não bị tắc nghẽn khiến tế bào vùng bị bệnh, sau khoảng 12 giờ không được cấp máu, bị chết, và chức năng vùng tổn thương không thể hồi phục. Nếu không được điều trị kịp thời, vùng bị tổn thương của cơ tim, não sẽ lan rộng và dẫn đến tử vong hoặc cũng để lại hậu quả lâu dài là tàn phế. Tỉ lệ tử vong do bệnh nhồi máu chiếm tới hơn 70%. Nhưng nếu được can thiệp sớm (lấy bỏ khối gây tắc) ngay trong vòng 12 giờ đầu đối với nhồi máu cơ tim và 6 giờ đầu đối với nhồi máu não, khả năng cứu sống người bệnh là hơn 90%, nhiều trường hợp hồi phục hoàn toàn. [[{"fid":"1649","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"486","width":"767","style":"width: 500px; height: 317px;","class":"media-element file-default"}}]] Phương pháp điều trị để có kết quả như trên là can thiệp mạch. Các bác sĩ sẽ phát hiện chỗ bị tắc bằng chụp mạch máu, đưa dụng cụ vào mạch máu, đến chỗ tắc và lấy cục máu đông ra. Phẫu thuật này cần thực hiện càng sớm thì mức độ hồi phục càng cao, tốt nhất là trong 6 giờ đầu (hồi phục gần như hoàn toàn). Vì vậy, ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ bị nhồi máu cơ tim, não, người bệnh cần được đưa đến ngay nơi có đủ điều kiện can thiệp trong “giờ vàng” (6 giờ đầu). [[{"fid":"1650","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"498","width":"578","style":"width: 500px; height: 431px;","class":"media-element file-default"}}]] Nguyên nhân dẫn tới nhồi máu cơ tim và nhồi máu não là do cục máu đông gây tắc nghẽn mạch, mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do xơ vữa động mạch hoặc hẹp lòng động mạch. Xơ vữa động mạch thường gặp ở những người mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, béo phì, người hút thuốc lá,… Đối với nhồi máu cơ tim, biểu hiện thường là cơn đau thắt vùng trước ngực trái; đau có thể đến mức vã mồ hôi, khó thở, đau lan đến vùng cổ, hàm và hai bên tay. Cơn đau xuất hiện đột ngột, kéo dài không đỡ. Với nhồi máu não, sẽ xuất hiện cơn đau đầu, buồn nôn hoặc nôn, nói khó, tê bì tay chân hoặc liệt nửa người. Các cơn đau có thể ngừng trong vài phút rồi đau lại. Vì vậy cần đến ngay bệnh viện để khám và xử trí kịp thời. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (BVĐK) mới sắp triển khai kĩ thuật can thiệp mạch. Tuy nhiên Bệnh viện có thể thực hiện cấp cứu ban đầu và chuyển bệnh nhân an toàn tới các bệnh viện tuyến trên ở Hà Nội để thực hiện kỹ thuật này. Vì vậy người bệnh cần được đưa đến Bệnh viện trong vòng 3 giờ đầu kể từ khi khởi phát bệnh để chuyển tuyến kịp can thiệp trong “giờ vàng”. BVĐK đang tích cực đào tạo nhân lực và chuẩn bị tiếp nhận trang thiết bị để triển khai kỹ thuật can thiệp mạch trong điều trị nhồi máu cơ tim và nhồi máu não, giúp nhiều người bệnh hơn được điều trị kịp thời mà không phải mất thời gian chuyển tuyến.

PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG Ở TRẺ

Tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở trẻ, có thể gây thành dịch và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Bệnh có thể điều trị tại nhà nhưng một số trường hợp có thể biến chứng nặng thậm chí tử vong. Từ đầu năm đến nay, Bệnh viện tiếp nhận 52 trường hợp, tăng 73% so với cùng kì năm 2017. Trước diễn biến phức tạp và tính nguy hiểm của bệnh tay chân miệng, phụ huynh cần trang bị những kiến thức để phòng bệnh và có cách xử trí kịp thời khi trẻ mắc bệnh. Bệnh TCM là gì? Bệnh TCM là một bệnh nhiễm virut cấp tính, lây truyền qua đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Bệnh phổ biến ở nhiều nước châu Á. Bệnh TCM xảy ra ở đâu? Trên thế giới, bệnh TCM có thể xảy ra nhỏ lẻ hoặc bùng phát thành dịch. Ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, dịch thường xảy ra quanh năm. Bệnh TCM xảy ra vài năm một lần tại các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong những năm gần đây, dịch xảy ra nhiều hơn tại châu Á. Các nước ghi nhận số trường hợp mắc bệnh TCM cao bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam. Nguyên nhân của bệnh TCM? Bệnh TCM gây ra do các loại virut thuộc nhóm đường ruột, gồm có Coxsackie, Echo và các virut đường ruột khác, trong đó hay gặp là virut đường ruột týp 71 (EV71) và Coxsackie A16. Virut EV71 có thể gây các biến chứng nặng và gây tử vong. Người bị lây nhiễm bệnh TCM như thế nào? Virut gây bệnh TCM có thể lây nhiễm từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, họng, nước bọt, chất dịch từ mụn nước, hoặc phân của người bị nhiễm bệnh. Người bị bệnh có thể làm lây lan bệnh nhiều nhất trong tuần đầu tiên của bệnh, nhưng thời gian lây nhiễm có thể kéo dài trong vài tuần (do virut vẫn tồn tại trong phân). Bệnh TCM không lây truyền từ người tới vật nuôi/động vật và ngược lại. Ai có nguy cơ mắc bệnh TCM? Tất cả những người chưa từng bị bệnh TCM đều có nguy cơ nhiễm bệnh, nhưng không phải ai bị nhiễm bệnh cũng xuất hiện bệnh. Bệnh TCM xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhưng thường gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Hầu hết người lớn được miễn dịch, nhưng vẫn có trường hợp mắc bệnh ở thanh thiếu niên và người lớn. Bệnh TCM nghiêm trọng tới mức nào? Bệnh TCM thường là một bệnh nhẹ, hầu hết tất cả bệnh nhân hồi phục trong vòng 7 - 10 ngày mà không cần điều trị và thường không gặp các biến chứng. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể diễn biến nặng như: viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong, thường do virut EV71 gây ra. Bệnh TCM có những triệu chứng gì? Thời gian ủ bệnh thông thường từ khi nhiễm bệnh tới khi khởi phát triệu chứng là 3 - 7 ngày. Bệnh thường bắt đầu với các biểu hiện như: Sốt, chán ăn, mệt mỏi và thường xuyên bị đau họng. 1 hoặc 2 ngày sau khi khởi phát sốt, xuất hiện đau trong miệng, có đốm đỏ như phỏng rộp và sau đó trở thành vết loét. Vết loét thường nằm trên lưỡi, nướu răng (lợi) và niêm mạc má. Phát ban trên da, không ngứa trong 1 - 2 ngày với những đốm màu đỏ khổng nổi hoặc nổi lên, có khi có rộp da. Ban thường nằm trong lòng bàn tay và lòng bàn chân; cũng có thể xuất hiện trên mông và/hoặc ở cơ quan sinh dục. Người bị bệnh TCM có thể không biểu hiện triệu chứng, hoặc có thể chỉ có phát ban hoặc chỉ loét miệng. Trong một số ít trường hợp, bệnh có thể diễn biến nhanh với các triệu chứng về thần kinh, hô hấp và nhanh chóng dẫn đến tử vong. Điều trị bệnh TCM như thế nào? Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh TCM. Bệnh nhân nên uống nhiều nước và có thể được điều trị triệu chứng để giảm sốt và giảm đau từ vết loét, phòng biến chứng. Cách phòng bệnh TCM? Cho đến nay, chưa có vaccin phòng bệnh TCM. Nguy cơ lây nhiễm bệnh có thể được giảm thiểu bằng việc thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và chăm sóc y tế kịp thời cho những trẻ em bị bệnh. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm: - Rửa tay thường xuyên với xà phòng trước khi chuẩn bị thức ăn và ăn uống, trước khi cho trẻ nhỏ ăn, sau khi sử dụng nhà vệ sinh và sau khi thay tã cho trẻ, đặc biệt là sau khi tiếp xúc với các bọng nước; - Làm sạch môi trường bị ô nhiễm và các vật dụng bẩn (bao gồm cả đồ chơi) với xà phòng và nước, sau đó khử trùng bằng các chất tẩy rửa thông thường; - Tránh tiếp xúc gần (ôm, hôn, dùng chung đồ dùng...) với trẻ em bị bệnh TCM cũng có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh; - Không cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị bệnh đi mẫu giáo, nhà trẻ, trường học hoặc nơi đông người cho tới khi khỏe hẳn; - Theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh và chăm sóc y tế kịp thời nếu trẻ sốt cao, li bì, mất tỉnh táo; - Che miệng và mũi khi hắt hơi và ho; - Xử lý khăn giấy và tã lót đã dùng bằng cách bỏ vào thùng rác và thải bỏ rác đúng cách; - Luôn lau dọn nhà cửa, nhà trẻ, trường học sạch sẽ.

Trang