CẤP CỨU (24/24):
02053.898.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

“GIỜ VÀNG” CỦA NHỒI MÁU CƠ TIM VÀ NHỒI MÁU NÃO

Nhồi máu cơ tim, nhồi máu não là những bệnh nguy hiểm, tỷ lệ mắc ngày càng tăng nhanh, nguy cơ tử vong cao hoặc tàn phế. Nếu nhận biết sớm và được xử trí trong vòng 12 giờ đầu tiên khi bị bệnh, tỷ lệ cứu chữa thành công rất cao. Nhiều trường hợp hồi phục hoàn toàn hoặc tránh được tử vong, tàn phế nặng. Nhồi máu cơ tim, não là hiện tượng nhánh động mạch nuôi tim, não bị tắc nghẽn khiến tế bào vùng bị bệnh, sau khoảng 12 giờ không được cấp máu, bị chết, và chức năng vùng tổn thương không thể hồi phục. Nếu không được điều trị kịp thời, vùng bị tổn thương của cơ tim, não sẽ lan rộng và dẫn đến tử vong hoặc cũng để lại hậu quả lâu dài là tàn phế. Tỉ lệ tử vong do bệnh nhồi máu chiếm tới hơn 70%. Nhưng nếu được can thiệp sớm (lấy bỏ khối gây tắc) ngay trong vòng 12 giờ đầu từ khi khởi phát, khả năng cứu sống người bệnh là hơn 90%, nhiều trường hợp hồi phục hoàn toàn. [[{"fid":"1649","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 317px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Phương pháp điều trị để có kết quả như trên là can thiệp mạch. Các bác sĩ sẽ phát hiện chỗ bị tắc bằng chụp mạch máu, đưa dụng cụ vào mạch máu, đến chỗ tắc và lấy cục máu đông ra. Phẫu thuật này cần thực hiện càng sớm thì mức độ hồi phục càng cao và chỉ có tác dụng trong 12 giờ từ khi xuất hiện cơn đau, tốt nhất là trong 6 giờ đầu (hồi phục gần như hoàn toàn). Vì vậy, ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ bị nhồi máu cơ tim, não, người bệnh cần được đưa đến ngay nơi có đủ điều kiện can thiệp trong “giờ vàng” (12 giờ đầu). [[{"fid":"1650","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 431px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Nguyên nhân dẫn tới nhồi máu cơ tim và nhồi máu não là do cục máu đông gây tắc nghẽn mạch, mà nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do xơ vữa động mạch hoặc hẹp lòng động mạch. Xơ vữa động mạch thường gặp ở những người mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, cao huyết áp, rối loạn mỡ máu, béo phì, người hút thuốc lá,… Đối với nhồi máu cơ tim, biểu hiện thường là cơn đau thắt vùng trước ngực trái; đau có thể đến mức vã mồ hôi, khó thở, đau lan đến vùng cổ, hàm và hai bên tay. Cơn đau xuất hiện đột ngột, kéo dài không đỡ. Với nhồi máu não, sẽ xuất hiện cơn đau đầu, buồn nôn hoặc nôn, nói khó, tê bì tay chân hoặc liệt nửa người. Các cơn đau có thể ngừng trong vài phút rồi đau lại. Vì vậy cần đến ngay bệnh viện để khám và xử trí kịp thời. Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (BVĐK) mới sắp triển khai kĩ thuật can thiệp mạch. Tuy nhiên Bệnh viện có thể thực hiện cấp cứu ban đầu và chuyển bệnh nhân an toàn tới các bệnh viện tuyến trên ở Hà Nội để thực hiện kỹ thuật này. Vì vậy người bệnh cần được đưa đến Bệnh viện trong vòng 9 giờ đầu kể từ khi khởi phát bệnh để chuyển tuyến kịp can thiệp trong “giờ vàng”. BVĐK đang tích cực đào tạo nhân lực và chuẩn bị tiếp nhận trang thiết bị. để triển khai kỹ thuật can thiệp mạch trong điều trị nhồi máu cơ tim và nhồi máu não, giúp nhiều người bệnh hơn được điều trị kịp thời mà không phải mất thời gian chuyển tuyến.

PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG Ở TRẺ

Tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở trẻ, có thể gây thành dịch và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Bệnh có thể điều trị tại nhà nhưng một số trường hợp có thể biến chứng nặng thậm chí tử vong. Từ đầu năm đến nay, Bệnh viện tiếp nhận 52 trường hợp, tăng 73% so với cùng kì năm 2017. Trước diễn biến phức tạp và tính nguy hiểm của bệnh tay chân miệng, phụ huynh cần trang bị những kiến thức để phòng bệnh và có cách xử trí kịp thời khi trẻ mắc bệnh. Bệnh TCM là gì? Bệnh TCM là một bệnh nhiễm virut cấp tính, lây truyền qua đường tiêu hóa, thường gặp ở trẻ nhỏ và có khả năng gây thành dịch lớn. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, tổn thương niêm mạc miệng và da chủ yếu ở dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Bệnh phổ biến ở nhiều nước châu Á. Bệnh TCM xảy ra ở đâu? Trên thế giới, bệnh TCM có thể xảy ra nhỏ lẻ hoặc bùng phát thành dịch. Ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, dịch thường xảy ra quanh năm. Bệnh TCM xảy ra vài năm một lần tại các khu vực khác nhau trên thế giới. Trong những năm gần đây, dịch xảy ra nhiều hơn tại châu Á. Các nước ghi nhận số trường hợp mắc bệnh TCM cao bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Đài Loan và Việt Nam. Nguyên nhân của bệnh TCM? Bệnh TCM gây ra do các loại virut thuộc nhóm đường ruột, gồm có Coxsackie, Echo và các virut đường ruột khác, trong đó hay gặp là virut đường ruột týp 71 (EV71) và Coxsackie A16. Virut EV71 có thể gây các biến chứng nặng và gây tử vong. Người bị lây nhiễm bệnh TCM như thế nào? Virut gây bệnh TCM có thể lây nhiễm từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp với dịch mũi, họng, nước bọt, chất dịch từ mụn nước, hoặc phân của người bị nhiễm bệnh. Người bị bệnh có thể làm lây lan bệnh nhiều nhất trong tuần đầu tiên của bệnh, nhưng thời gian lây nhiễm có thể kéo dài trong vài tuần (do virut vẫn tồn tại trong phân). Bệnh TCM không lây truyền từ người tới vật nuôi/động vật và ngược lại. Ai có nguy cơ mắc bệnh TCM? Tất cả những người chưa từng bị bệnh TCM đều có nguy cơ nhiễm bệnh, nhưng không phải ai bị nhiễm bệnh cũng xuất hiện bệnh. Bệnh TCM xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi, nhưng thường gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Hầu hết người lớn được miễn dịch, nhưng vẫn có trường hợp mắc bệnh ở thanh thiếu niên và người lớn. Bệnh TCM nghiêm trọng tới mức nào? Bệnh TCM thường là một bệnh nhẹ, hầu hết tất cả bệnh nhân hồi phục trong vòng 7 - 10 ngày mà không cần điều trị và thường không gặp các biến chứng. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể diễn biến nặng như: viêm màng não, viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong, thường do virut EV71 gây ra. Bệnh TCM có những triệu chứng gì? Thời gian ủ bệnh thông thường từ khi nhiễm bệnh tới khi khởi phát triệu chứng là 3 - 7 ngày. Bệnh thường bắt đầu với các biểu hiện như: Sốt, chán ăn, mệt mỏi và thường xuyên bị đau họng. 1 hoặc 2 ngày sau khi khởi phát sốt, xuất hiện đau trong miệng, có đốm đỏ như phỏng rộp và sau đó trở thành vết loét. Vết loét thường nằm trên lưỡi, nướu răng (lợi) và niêm mạc má. Phát ban trên da, không ngứa trong 1 - 2 ngày với những đốm màu đỏ khổng nổi hoặc nổi lên, có khi có rộp da. Ban thường nằm trong lòng bàn tay và lòng bàn chân; cũng có thể xuất hiện trên mông và/hoặc ở cơ quan sinh dục. Người bị bệnh TCM có thể không biểu hiện triệu chứng, hoặc có thể chỉ có phát ban hoặc chỉ loét miệng. Trong một số ít trường hợp, bệnh có thể diễn biến nhanh với các triệu chứng về thần kinh, hô hấp và nhanh chóng dẫn đến tử vong. Điều trị bệnh TCM như thế nào? Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh TCM. Bệnh nhân nên uống nhiều nước và có thể được điều trị triệu chứng để giảm sốt và giảm đau từ vết loét, phòng biến chứng. Cách phòng bệnh TCM? Cho đến nay, chưa có vaccin phòng bệnh TCM. Nguy cơ lây nhiễm bệnh có thể được giảm thiểu bằng việc thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và chăm sóc y tế kịp thời cho những trẻ em bị bệnh. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm: - Rửa tay thường xuyên với xà phòng trước khi chuẩn bị thức ăn và ăn uống, trước khi cho trẻ nhỏ ăn, sau khi sử dụng nhà vệ sinh và sau khi thay tã cho trẻ, đặc biệt là sau khi tiếp xúc với các bọng nước; - Làm sạch môi trường bị ô nhiễm và các vật dụng bẩn (bao gồm cả đồ chơi) với xà phòng và nước, sau đó khử trùng bằng các chất tẩy rửa thông thường; - Tránh tiếp xúc gần (ôm, hôn, dùng chung đồ dùng...) với trẻ em bị bệnh TCM cũng có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh; - Không cho trẻ sơ sinh và trẻ em bị bệnh đi mẫu giáo, nhà trẻ, trường học hoặc nơi đông người cho tới khi khỏe hẳn; - Theo dõi chặt chẽ tình trạng bệnh và chăm sóc y tế kịp thời nếu trẻ sốt cao, li bì, mất tỉnh táo; - Che miệng và mũi khi hắt hơi và ho; - Xử lý khăn giấy và tã lót đã dùng bằng cách bỏ vào thùng rác và thải bỏ rác đúng cách; - Luôn lau dọn nhà cửa, nhà trẻ, trường học sạch sẽ.

PHÒNG TRÁNH TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ NHỎ

Tai nạn thương tích ở trẻ em để lại nhiều hậu quả nặng nề, cả về thể chất và tinh thần, khiến các em mất đi những cơ hội trong học tập cũng như cuộc sống.   Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn vừa tiếp nhận trường hợp bé trai Lạc Quốc M (4 tuổi, địa chỉ Tân Thành, Cao Lộc, Lạng Sơn) vào viện trong tình trạng tay phải chảy nhiều máu, vết thương dập nát phần đầu 3 ngón tay II, III, IV. Khi thấy mẹ cho chuối vào máy thái, cháu M đã làm theo và bị tai nạn. Bác sĩ chẩn đoán M bị tổn thương phần mềm đốt 3 ngón II, IV, vết thương dập nát đốt 3 ngón III. Do tổn thương nặng nên phải phẫu thuật cắt bỏ đốt 3 của ngón II và III tay phải cháu bé. [[{"fid":"1641","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Bé Lạc Quốc M mất đốt ngón tay cho tai nạn máy thái rau Từ đầu năm đến nay, BVĐK tiếp nhận 84 trường hợp trẻ bị bỏng, 15 trường hợp trẻ bị tai nạn máy cắt, và một số trường hợp tai nạn khác. Các tai nạn thường gặp ở trẻ nhỏ là tai nạn giao thông, đuối nước, ngộ độc, ngã, bỏng, súc vật cắn hoặc bị thương bởi các vật sắc nhọn… Nhiều trường hợp để lại hậu quả nặng nề, gây thương tật vĩnh viễn, thậm chí có nguy cơ tử vong. Để phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ em, các bậc phụ huynh, người trông giữ trẻ cần thực hiện các biện pháp: Đối với tai nạn đuối nước: Chỉ đưa trẻ đi bơi ở các hồ bơi bảo đảm an toàn và có nhân viên cứu hộ giám sát; Trẻ em khi bơi phải được người lớn giám sát thường xuyên. Đối với các gia đình có trẻ nhỏ tốt nhất không nên để lu nước, thùng nước, nếu có thì nên đậy nắp thật chặt để trẻ em không mở nắp được. Các gia đình có hồ bơi nên rào kín xung quanh, khóa cửa và có hệ thống báo động khi trẻ em vào. Nhắc nhở trẻ không được đi tắm, bơi ngoài sông, suối mà không có người lớn biết bơi đi kèm. Không chơi, đùa nghịch quanh ao, hồ nước, hố sâu, hố vôi đang tôi, để tránh bị ngã. Đối với các công trình xây dựng nên lấp kín các hố, rãnh nước sau khi sử dụng. Nên có người lớn đưa đi học trong mùa mưa lũ, đặc biệt khi phải đi qua các khu vực ngập úng. Đối với tai nạn thương tích do ngã: Cần đảm bảo các bậc thềm, bậc cầu thang tạo điều kiện cho trẻ đi dễ dàng. Sắp xếp đồ đạc trong nhà hợp lý, không để vướng đường trẻ hay đi lại. Bọc cạnh, mép nhọn của bàn, ghế, đồ vật bằng các miếng cao su, nhựa. Làm lan can, tay vịn cầu thang, lắp chấn song cửa sổ, làm cửa chắn cầu thang an toàn (độ cao tối thiểu 75cm, chấn song dọc, khoảng cách giữa các song tối đa 15cm). Luôn giữ sàn nhà, nhà tắm, sân… (những nơi sinh họat của trẻ) khô ráo, không trơn trượt, không mấp mô; không đi chân ướt vào sàn nhà. Không để đồ dùng, đồ vật của trẻ ở những nơi quá cao trẻ không với tới được. Giáo dục con trẻ tránh các trò chơi nguy hiểm: nhảy từ trên cao, đuổi nhau chơi đùa ở những chỗ nguy hiểm. Hướng dẫn trẻ kỹ năng phòng tránh ngã khi đi vào những khu vực hoặc sử dụng những đồ vật dễ gây ngã. Hướng dẫn và tổ chức cho các em hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh: thăm quan, cắm trại, có sân bóng riêng. Xây dựng môi trường an toàn: Biển báo nguy hiểm, báo cấm (cấm đi, trèo...) ở những nơi cần thiết. Không để cho trẻ nhỏ dưới 10 tuổi trông trẻ nhỏ dưới 3 tuổi. Đối với tai nạn thương tích do điện giật: Đảm bảo các thiết bị điện trong gia đình đều an toàn, tuyệt đối không dùng dây điện trần (không có vỏ bọc nhựa) để mắc điện trong nhà, không dùng dây điện có phích cắm cắm trực tiếp vào ổ cắm. Để nguồn điện ở chỗ trẻ nhỏ không với được, dùng chắn điện an toàn, lấy băng dính bịt kín những ổ điện ít dùng đến. Thường xuyên kiểm tra hệ thống dây điện, các thiết bị điện, tìm chỗ hở và khắc phục, không dùng điện để đánh cá, diệt chuột, chống trộm. Hướng dẫn cách phòng điện giật và thao tác kỹ thuật sơ cứu điện giật tại trường học, tại gia đình và nơi làm việc. Giáo dục trẻ không sờ tay vào ổ cắm. Ghi biển báo những dấu hiệu nguy hiểm nơi có nguy cơ gây ra điện giật. Nhắc nhở trẻ tránh xa nơi dây điện đứt rơi xuống, đặc biệt khi trời mưa thì không nên nấp dưới các gốc cây to/cao... Giáo dục trẻ em ý thức tuân thủ an toàn dưới hành lang điện (không trèo lên cột điện cao thế ngoắc điện, không lấy sào chọc dây điện, không câu móc điện bừa bãi, không xây nhà cao gần đường điện cao thế). Đối với tai nạn thương tích do bỏng: Bố trí bếp nấu ăn hợp lý, để bếp lò phẳng, cao ngoài tầm với hoặc có vách ngăn không cho trẻ nhỏ tới gần.  Không để đồ vật đựng nước nóng trong tầm với trẻ em (nồi canh, phích nước, vòi nước nóng, bàn là đang nóng, ống bô xe máy...). Khi bưng, bê nước nóng, thức ăn mới nấu chín phải chú ý: tránh xa trẻ để không va đụng. Luôn kiểm tra nhiệt độ của thức ăn, đồ uống trước khi cho trẻ ăn, uống; nhiệt độ nước tắm rửa. Không để trẻ nhỏ tiếp xúc với diêm, bật lửa, lửa, nước sôi, thức ăn nóng, bếp đang đun... Không để trẻ tự tắm với vòi nước nóng lạnh. Quản lý chặt chẽ chai lọ đựng hoá chất như chất tẩy rửa, acid. Không nên cho trẻ dưới 8 tuổi giúp đỡ bố mẹ làm bếp. Hướng dẫn trẻ có kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích do bỏng.     

TỰ ĐIỀU TRỊ Ở NHÀ - VIỆC NÊN TRÁNH

Một số người dân thường tự ý sử dụng thuốc điều trị tại nhà. Tuy nhiên, sử dụng thuốc khi không có kiến thức chuyên môn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Vừa qua, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận trường hợp bệnh nhân Bàn Thị L (địa chỉ: Vĩnh Yên, Bình Gia, Lạng Sơn) vào viện trong tình trạng mắt trái sưng nề, khó mở, nhìn mờ, sợ ánh sáng, mắt đau nhức, chảy nước mắt. Trước đó 2 tháng, chị L thấy đau mắt, cộm đỏ đã tự lên rừng hái lá cây về đắp nhưng không khỏi. Chị được chẩn đoán viêm giác mạc mắt trái. Nhờ đến Bệnh viện kịp thời, hiện tại mắt chị L đã ổn định và được ra viện. Nếu tiếp tục tự ý đắp lá cây, mắt của chị có nguy cơ thủng giác mạc, mất chức năng thị lực dẫn đến mù lòa. [[{"fid":"1638","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 889px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Bệnh nhân Bàn Thị L điều trị tại khoa Mắt BVĐK Tự ý sử dụng các loại thuốc chữa bệnh khi không có kiến thức và chỉ định của bác sĩ sẽ gây tổn hại sức khỏe, thậm chí gây nguy hiểm tính mạng. Để tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra, không nên sử dụng các loại thuốc tự chữa bệnh tại nhà mà không hiểu rõ tác dụng của thuốc. Khi có các biểu hiện bất thường về sức khỏe, cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị.

PHÒNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

Từ đầu năm đến nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận 9 trường hợp bệnh nhân mắc sốt xuất huyết. Đây là bệnh nguy hiểm, có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. [[{"fid":"1633","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"488","width":"650","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Muỗi Aedes aegypti (muỗi vằn) truyền bệnh sốt xuất huyết Hiện nay đang vào cuối mùa mưa, nước tù đọng trong các ao hồ lâu ngày tạo điều kiện cho cung quăng phát triển thành muỗi. Trời lạnh dần, muỗi bay vào nhà nhiều hơn làm tăng nguy cơ mắc sốt xuất huyết. Bệnh sốt xuất huyết có thể phát triển thành dịch do vi rút dengue gây ra, xâm nhập cơ thể từ vết đốt của muỗi vằn. Hiện nay, chưa có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu. [[{"fid":"1634","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"720","width":"1280","style":"width: 500px; height: 281px;","class":"media-element file-default"}}]] Ban xuất huyết dưới dạng nốt Người bệnh thường có biểu hiện mệt mỏi, đau nhức người, đau khớp. Sốt 39-400C kèm theo đau đầu vùng trán hoặc sau hố mắt, chán ăn, nôn và đau bụng. Sau khi sốt 2-3 ngày, trên da người bệnh có biểu hiện sung huyết và phát ban dát đỏ, hoặc có ban xuất huyết dưới dạng nốt, chảy máu cam, chảy máu chân răng... Nặng hơn người bệnh có thể bị chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa với biểu hiện nôn và đi ngoài ra máu. Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, có thể dẫn đến hôn mê và tử vong. [[{"fid":"1635","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"316","width":"500","class":"media-element file-default"}}]] Phòng bệnh sốt xuất huyết bằng cách dọn dẹp sạch sẽ xung quanh nơi ở, phát quang bụi rậm, loại bỏ các dụng cụ chứa nước bẩn, thả cá vào dụng cụ chứa nước để diệt bọ gậy, khơi thông cống rãnh, tránh nước tù đọng. Tích cực phối hợp với cơ sở y tế trong các đợt phun hóa chất diệt muỗi. Mặc quần áo dài tay phòng muỗi đốt, mắc màn khi ngủ. Khi có biểu hiện bệnh kiểu sốt xuất huyết, cần uống nhiều nước, tốt nhất là loại đa điện giải (oresol) và đến ngay cơ sở y tế gần nhất khám và điều trị; không mua thuốc tự điều trị tại nhà.

NGỘ ĐỘC RƯỢU VÀ CÁCH XỬ TRÍ

Tình trạng ngộ độc rượu đang có chiều hướng gia tăng do việc sử dụng rượu trong sinh hoạt hàng ngày của người dân khá phổ biến và tăng mạnh vào các dịp lễ tết. Từ đầu tháng 8/2018 đến nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận 20 trường hợp bệnh nhân nhập viện do ngộ độc rượu. Điển hình, có trường hợp bệnh nhân nam 57 tuổi, sau uống nhiều rượu, thấy mệt mỏi, khó thở. Và xuất hiện co giật, suy thận, hôn mê, ngừng tim. Do được cấp cứu kịp thời, bệnh nhân mới được cứu sống. Một bệnh nhân ở Huyện Lộc Bình, sau uống nhiều rượu cũng có các biểu hiện trên, vào viện khi đã hôn mê và có dấu hiệu ngừng tim, được cấp cứu tích cực nên mới thoát khỏi tử vong. Ngộ độc rượu gây ra những hậu quả nghiêm trọng, làm chậm hoặc ngừng chức năng hô hấp và tuần hoàn, tổn thương gan – thận, hệ thần kinh trung ương,…; có thể gây tử vong nếu bị nặng mà không được xử trí kịp thời. [[{"fid":"1573","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1280","width":"1280","style":"width: 500px; height: 500px;","class":"media-element file-default"}}]] Ngộ độc rượu gây hậu quả nghiêm trọng Nguyên nhân gây ngộ độc rượu là do người bệnh uống quá nhiều rượu trong một khoảng thời gian, uống rượu chứa độc tố (thường là rượu không rõ nguồn gốc, rượu ngâm từ các loại rễ và củ chứa chất độc). Người bị mắc bệnh mãn tính, bệnh huyết áp, tim mạch, đái tháo đường,… khi uống rượu cũng làm tăng nguy cơ ngộ độc. Có hai loại ngộ độc rượu thường gặp, đó là ngộ độc ethanol (rượu thông thường) và ngộ độc methanol (cồn công nghiệp). Với ngộ độc ethanol ở dạng cấp tính, ban đầu người bệnh có dấu hiệu kích thích như: nói nhiều, mất kiểm soát hành vi, lời nói, đau bụng, nôn mửa,… Còn ở dạng mạn tính do uống rượu kéo dài dẫn đến sút cân, chán ăn, đi ngoài do tổn thương gan và ruột, da xanh tái do thiếu máu, thoái hoá gan, xơ gan, ung thư gan, mất trí nhớ, rối loạn tâm thần. Với ngộ độc methanol, là chất độc cực mạnh, chỉ cần uống từ 5-15ml có thể gây ngộ độc nặng, hôn mê, hạ đường huyết, hạ thân nhiệt, rối loạn chuyển hóa, suy hô hấp cấp tính và tử vong. Khi có các dấu hiệu ngộ độc rượu, cần cho người bệnh uống nhiều nước, có thể uống nước gừng tươi, nước chè xanh, nước cam để giúp giảm ngộ độc rượu và đưa người bệnh đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Lưu ý không nên cho người bệnh uống các loại thuốc có tác dụng bổ gan để giải độc rượu. Không tự mua thuốc điều trị tại nhà. Phòng ngừa ngộ độc rượu bằng cách: hạn chế sử dụng rượu; không sử dụng các loại rượu không được phép lưu hành chính thức hoặc uống các loại rượu có nồng độ từ 30 độ trở lên. Trẻ em dưới 16 tuổi, người cao tuổi và người đang bị bệnh tuyệt đối không được uống rượu.

VIÊM TỤY CẤP - MỘT BỆNH NGUY HIỂM

Thời gian gần đây, số bệnh nhân mắc viêm tụy cấp điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn có chiều hướng gia tăng. Mỗi tháng trung bình có 15 – 20 bệnh nhân. Đây là căn bệnh nguy hiểm, có thể gây tử vong cao nếu không được chẩn đoán và điều trị đúng cách. Viêm tụy cấp là tình trạng tụy bị viêm cấp tính do các enzyme tiêu hóa protit, mỡ, tinh bột do tụy sản xuất ra hoạt hóa ngay tại tụy gây ra tiêu hủy mô tụy. Viêm tụy cấp có thể diễn biến thành chảy máu tụy, thậm chí gây hoại tử các tạng xung quanh, nhiễm trùng huyết, shock và tử vong. [[{"fid":"1562","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1003","width":"1334","style":"width: 500px; height: 376px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh nhân viêm tụy cấp đang điều trị tại BVĐK Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh viêm tụy cấp, trong đó: ăn bữa ăn quá nhiều đạm – béo, lạm dụng rượu bia, sỏi mật, giun chui ống mật - tụy,… là nguyên nhân chính. Ngoài ra, có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh như tăng mỡ máu, tổn thương tụy do phẫu thuật ổ bụng hoặc chấn thương tụy do tác động ngoại lực, tăng nồng độ canxi trong máu, sốc kéo dài (làm giảm tưới máu đến tụy), hoặc viêm tụy do di truyền. Bệnh viêm tụy cấp có dấu hiệu đặc trưng nhất là đau bụng dữ dội vùng trên rốn, và thường lan ra sau lưng. Viêm tụy cấp do sỏi mật hoặc do giun: cơn đau xuất hiện đột ngột và dữ dội chỉ trong vòng vài phút; khi cử động mạnh, thở sâu đều làm tăng đau. Viêm tụy cấp do rượu, đau bụng thường đến muộn sau 5-7 ngày và có thể kèm theo sốt. Người bệnh có các triệu chứng buồn nôn và nôn, trướng bụng, mạch nhanh. Dấu hiệu của viêm tụy không đặc trưng, có thể giống nhiều bệnh khác. Chẩn đoán chỉ có thể thực hiện được với thầy thuốc giàu kinh nghiệm hoặc cơ sở y tế có trang bị tốt (xét nghiệm được men tụy, chụp cắt lớp vi tính,…) Ngay khi có những dấu hiệu nghi ngờ bệnh viêm tụy cấp, người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được khám và điều trị kịp thời. Tuyệt đối không tự ý chẩn đoán và mua thuốc điều trị tại nhà làm chậm trễ quá trình điều trị đúng (bỏ mất thời điểm can thiệp hiệu quả cao, có thể gây nguy hiểm). Để phòng bệnh viêm tụy cấp, cần ăn uống điều độ, hạn chế sử dụng rượu bia. Khi bị sỏi mật cần tích cực điều trị để tránh gây biến chứng viêm tụy.

3 NGƯỜI TRONG MỘT GIA ĐÌNH BỊ NGỘ ĐỘC DO ĂN NẤM

Ngày 2/8/2018, Khoa Hồi sức Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (BVĐK) tiếp nhận 3 trường hợp bệnh nhân trong cùng một gia đình nhập viện do có biểu hiện ngộ độc sau khi ăn nấm. Bệnh nhân Hoàng Thị L 48 tuổi, Vi Thị P 22 tuổi và Vi Văn N 15 tuổi (địa chỉ Xã Xuất Lễ, Huyện Cao Lộc) vào viện với cùng một triệu chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, nôn và đi ngoài. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị ngộ độc do ăn nấm và xử trí kịp thời. Hiện tại sức khỏe của cả 3 bệnh nhân ổn định. [[{"fid":"1508","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1536","width":"2048","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh nhân Hoàng Thị L và con gái Vi Thị P điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu BVĐK [[{"fid":"1509","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1536","width":"2048","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh nhân Vi Văn N điều trị tại Khoa hồi sức cấp cứu BVĐK Trước đó, chị L lên rừng phát hiện nhiều nấm và đã hái về ăn. Sau ăn khoảng 10 phút, cả 3 mẹ con chị có biểu hiện trên và được người nhà đưa vào viện. Chị L cho biết cây nấm gia đình chị ăn có màu trắng xám và hình dạng rất giống nấm thường nên chị không nhận biết được là nấm độc. Khoảng 3 tháng trở lại đây, Khoa Hồi sức cấp cứu BVĐK  tiếp nhận 8 trường hợp nhập viện do ngộ độc nấm. Do đang vào mùa mưa, các loại nấm phát triển mạnh, nên một số người dân hái về sử dụng, làm tăng nguy cơ ngộ độc. Thông thường, nấm độc có màu sắc sặc sỡ và có đốm màu trắng, đen, đỏ nổi trên mũ nấm. Nấm độc có mùi thơm, khi ngắt sẽ có nhựa chảy ra. Những loại nấm có phần gốc phình to giống củ hầu hết là nấm độc. Một số loại nấm độc có màu sắc và hình dạng giống với nấm thường nên rất dễ gây nhầm lẫn. Khi có biểu hiện ngộ độc nấm, cần nhanh chóng gây nôn, càng sớm càng tốt. Người bệnh cần uống nhiều nước, tốt nhất là dùng oresol. Cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất. Chú ý đưa cả những người cùng ăn nấm đến cơ sở y tế dù chưa có biểu hiện ngộ độc. Để phòng ngừa ngộ độc nấm, tuyệt đối không được ăn nấm lạ, nấm hoang dại, kể cả các loại nấm có màu sắc và hình dáng giống với nấm thường. Chỉ sử dụng các loại nấm biết rõ nguồn gốc và biết chắc chắn đó là loại ăn được. Các loại nấm ăn được nên chế biến khi còn tươi, nếu để ôi thiu, dập nát có thể hình thành độc tố mới gây ngộ độc.

Trang