CẤP CỨU (24/24):
02053.898.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT KHI KHÁM, CHỮA BỆNH BẢO HIỂM Y TẾ

I. Bảo hiểm y tế là gì? Căn cứ Điều 2, Luật BHYT số 01/VBHN-VPQH quy định chi tiết về khái niệm bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. BHYT là 1 trong những chính sách an sinh xã hội tốt nhất hiện nay cho người lao động khi thăm, khám chữa bệnh. Vậy những ai bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế? [[{"fid":"2846","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"768","width":"1024","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Bảo hiểm y tế mang đến nhiều quyền lợi thiết thực cho người lao động.  II. Đối tượng bắt buộc phải mua bảo hiểm y tế Căn cứ Chương I, Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về nhóm 06 đối tượng tham gia BHYT bao gồm:  Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; Nhóm do cơ quan BHXH đóng; Nhóm do ngân sách Nhà nước đóng; Nhóm được ngân sách Nhà nước hỗ trợ mức đóng; Nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình; Nhóm do người sử dụng lao động đóng. III. Mức đóng bảo hiểm y tế  Căn cứ theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung 2014, Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định chi tiết về mức đóng bảo hiểm y tế bao gồm: Mức đóng BHYT thuộc nhóm 3 đối tượng  Đối với 3 nhóm đối tượng do người lao động và người sử dụng lao động đóng, nhóm do Quỹ bảo hiểm xã hội đóng và nhóm do ngân sách Nhà nước đóng thì mức đóng BHYT là 4,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN hàng tháng. Mức đóng nhóm hộ gia đình Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở;  Người thứ 2 đóng bằng 70% mức đóng của người thứ nhất;  Người thứ 3  đóng bằng 60% mức đóng của người thứ nhất;  Người thứ 4 đóng bằng 50% mức đóng của người thứ nhất;  Từ người thứ 5 trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất. Lưu ý nhóm do Ngân sách nhà nước đóng: Người thuộc hộ gia đình cận nghèo =>  Mức hỗ trợ tối thiểu là 70% TLCS Học sinh, sinh viên. =>  Mức hỗ trợ tối thiểu là 30% TLCS. Hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm, nghiệp có mức thu nhập trung bình. =>  Mức hỗ trợ tối thiểu là 50% TLCS. IV. Quyền lợi hưởng bảo hiểm y tế Chi phí khám, chữa bệnh các bệnh thông thường, chưa kể đến các bệnh nan y tại các cơ sở y tế hiện nay không phải là con số nhỏ. Bằng việc tham gia BHYT, tùy thuộc vào tuyến khám, chữa bệnh, người tham gia sẽ được hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần. Căn cứ Điều 22, Luật BHYT số 01/VBHN-VPQH quy định chi tiết về quyền lợi mà người dân được hưởng khi tham gia bảo hiểm y tế như sau: 1. Mức hưởng BHYT đúng tuyến 100% chi phí khám, chữa bệnh đối với các đối tượng: + Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; + Sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; + Người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; + Học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an; + Người có công với cách mạng, cựu chiến binh + Trẻ em dưới 6 tuổi; + Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hàng tháng; + Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo; + Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ; + Khám, chữa bệnh một lần thấp hơn mức do Chính phủ quy định và khám, chữa bệnh tại tuyến xã; + Người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến. 95% chi phí khám chữa bệnh đối với các đối tượng  + Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng; + Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ người được BHYT chi trả 100% chi phí; + Người thuộc hộ gia đình cận nghèo. 80% chi phí nếu là các đối tượng khác 2. Mức hưởng bảo hiểm y tế trái tuyến - 40% chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện tuyến trung ương; - 60% chi phí điều trị nội trú đến ngày 31/12/2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01/01/2021 tại bệnh viện tuyến tỉnh; - 100% chi phí tại bệnh viện tuyến huyện. Riêng người sống tại xã đảo, huyện đảo; người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn đi khám không đúng tuyến vẫn được hưởng theo mức hưởng đúng tuyến. V. Các trường hợp không được hưởng BHYT Trích Điều 23 Luật BHYT, các trường hợp không được hưởng BHYT gồm: - Chi phí trong trường hợp đã được ngân sách nhà nước chi trả. - Điều dưỡng, an dưỡng tại cơ sở điều dưỡng, an dưỡng. - Khám sức khỏe. - Xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị. - Sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh lý của thai nhi hay của sản phụ. - Sử dụng dịch vụ thẩm mỹ. - Điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt. Trừ trường hợp điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ cho trẻ em dưới 6 tuổi. - Sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng. - Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng đối với bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, thảm họa. - Khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp tự tử, tự gây thương tích. (đã bãi bỏ) - Khám bệnh, chữa bệnh nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiện khác. - Khám bệnh, chữa bệnh tổn thương về thể chất, tinh thần do hành vi vi phạm pháp luật của người đó gây ra. (đã bãi bỏ) - Giám định y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. - Tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học. [[{"fid":"2849","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"height":"364","width":"600","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] VI. Cách đọc thông tin trên thẻ BHYT: - Ô thứ nhất (2 ký tự đầu tiên): Mã đối tượng tham gia BHYT được ký hiệu bằng chữ. Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT khác nhau thì mã đối tượng ghi trên thẻ BHYT là mã đối tượng đóng BHYT được xác định đầu tiên theo quy định tại Khoản 7, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật BHYT. - Ô thứ 2 (1 ký tự tiếp theo): Mức hưởng BHYT và được ký hiệu bằng số (theo số thứ tự từ 1 đến 5). Trường hợp một người thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT thì mức hưởng BHYT ghi trên thẻ BHYT là mức hưởng của đối tượng có quyền lợi cao nhất. - Ô thứ 3 (2 ký tự tiếp theo): Mã tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi phát hành thẻ BHYT được ký hiệu bằng số (từ 01 đến 99) (theo mã tỉnh, thành phố ban hành kèm theo Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg về việc thông báo mã số danh mục hành chính mới). Riêng mã của Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng được ký hiệu bằng số 97, của Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân được ký hiệu bằng số 98. - Ô thứ 4 (2 ký tự tiếp theo): Mã quận, huyện. thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, nơi quản lý đầu mối của người tham gia BHYT (Theo thứ tự huyện quy định tại Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg và công văn số 628/TCTK-PPCĐ). Riêng đối tượng do tỉnh trực tiếp thu có ký hiệu 00. - Ô thứ 5 (3 ký tự tiếp theo): Mã đơn vị quản lý, theo địa giới hành chính và theo loại đối tượng. Trong đó, đối tượng do xã quản lý (bao gồm cả người lao động làm việc trong tổ hợp tác, hộ sản xuất kinh doanh cá thể), lấy ký tự đầu ký hiệu bằng số 9 (901, 999). - Ô thứ 6 (5 ký tự cuối): Số thứ tự của người tham gia BHYT trong 1 đơn vị, được ký hiệu bằng số (theo số tự nhiên từ 00001 đến 99999). VII. Bảo hiểm y tế tự nguyện  Ngoài bảo hiểm y tế bắt buộc nêu trên thì người dân có thể tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Bảo hiểm y tế tự nguyện là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, do người dân tự nguyện tham gia và được Nhà nước tổ chức thực hiện, không vì mục đích lợi nhuận.   Theo phương thức quản lý của Nhà nước thì hiện nay có 02 loại hình BHYT là BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện. Do đó, trừ các đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc thì mọi công dân Việt Nam đều được tham gia BHYT tự nguyện theo Luật Bảo hiểm y tế.

LỢI ÍCH TUYỆT VỜI TỪ BƠI LỘI

Bơi lội là một hoạt động thể thao đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe đối với cả người lớn và trẻ em. Không chết đuối khi rơi xuống nước: đây chính là lợi ích lớn nhất khi trẻ biết bơi. Tránh được hậu quả đáng tiếc trong trường hợp xảy ra tai nạn. [[{"fid":"2844","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 328px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Dạy trẻ tập bơi để phòng đuối nước Trẻ sẽ tự tin hơn khi đi bơi: nhiều đứa trẻ sợ sệt khi xuống nước và luôn e dè trước đám đông. Tuy nhiên, khi đi bơi, phải mặc áo tắm và mọi người đều giống nhau, chẳng ai dám phá cách mặc đồ lạ xuống bể bơi. Khi trẻ vượt qua được sự e dè ban đầu, tức là đã chiến thắng được mình. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu còn cho biết, bơi lội giúp ích rất nhiều trong việc chữa bệnh cho trẻ tự kỉ. Bơi lội giúp trẻ có những phản ứng tích cực khi tiếp xúc với môi trường. Sự kết hợp giữa bơi lội với đồ chơi, âm nhạc và các trò chơi sẽ giúp trẻ tự kỉ có phản ứng tương tác với những người xung quanh. Bơi giúp trẻ tăng chiều cao: đây là một lợi ích mà hầu như ai cũng đã biết đến. Bơi lội là môn thể thao tốt cho toàn bộ cơ thể, giúp cải thiện chức năng tim, phổi, các cơ và xương được thư giãn hoàn toàn. Do đó, rất phù hợp với những người muốn tăng chiều cao, đặc biệt là thanh thiếu niên ở tuổi đang phát triển. Giảm cân hữu hiệu cho trẻ béo phì: khi đi bơi phải tiêu hao nhiều năng lượng hơn các môn thể thao tập luyện ngoài trời khác. Khả năng dẫn nhiệt của nước gấp 24 lần không khí và nhiệt độ của nước thấp hơn nhiệt độ bình thường của không khí, vì thế bơi giúp cơ thể hạ nhiệt và đốt cháy chất béo nhanh chóng nên rất hữu hiệu cho việc giảm cân. Tốc độ trao đổi chất diễn ra rất nhanh trong suốt và sau thời gian bơi, 30 phút bơi tiêu tốn khoảng 1.100 calo, vì thế bơi là phương pháp giảm cân lý tưởng cho những người có thân hình đẫy đà, nhất là trẻ béo phì. Giảm chấn thương đồng thời phục hồi chấn thương: các hoạt động thể thao khác có thể gây đau một số vùng trên cơ thể như chân tay hoặc vùng eo hông, vì thế ảnh hưởng đến các khớp, xương tay và chân làm cơ thể dễ mệt mỏi và giảm hứng thú tập luyện. Bơi giúp tránh các chấn thương ở chân tay và vùng eo, giảm nguy cơ đau các khớp xương. Vì vậy, bơi lội chính là một môn thể thao an toàn cho trẻ, đem lại nhiều lợi ích và giảm được những chấn thương không đáng có. Massage cơ thể: Trong khi bơi, áp suất nước tác động lên toàn bộ cơ thể có tác dụng như một bài massage giúp đẹp da và giảm đau nhức, mệt mỏi toàn cơ thể. Lực tác động của nước đối với cơ thể sẽ tác động tích cực lên hệ tim mạch, làm máu lưu thông, dung tích thở của người bơi được tăng lên. Khi bơi, các cơ khớp và hệ xương được vận động liên tục, cơ thể trở nên dẻo dai, tan bớt những chỗ mỡ thừa, giúp cơ thể săn chắc. Đối với các bé, khi bơi vận động được toàn cơ thể nên bơi luôn là môn thể thao được đánh giá hàng đầu về việc rèn luyện sức khỏe dẻo dai, bền bỉ. Điều cốt lõi nhất khi học bơi là cần học được cách thở và điều tiết nhịp thở ổn định, một điều rất cần thiết cho sức khỏe của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, để có thể cho trẻ đi bơi đúng cách, cha mẹ cần nắm được những điều cần thiết về: độ tuổi phù hợp để trẻ đi bơi, thời gian, địa điểm bơi và những điều lưu ý trước, trong và sau khi cho trẻ đi bơi.   Theo Sức khỏe và đời sống  

NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRONG MÙA HÈ CẦN LƯU Ý NHỮNG GÌ?

NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRONG MÙA HÈ CẦN LƯU Ý NHỮNG GÌ? Thời tiết nắng nóng của mùa hè gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người, đối với bệnh nhân bị đái tháo đường ảnh hưởng sẽ lớn hơn rất nhiều so với những người khác không bị bệnh. Thời tiết nắng nóng không chỉ ảnh hưởng tới người bình thường, mà đối với người bị bệnh đái tháo đường, nắng nóng có thể khiến cho đường huyết tăng hoặc giảm hơn mức bình thường. Tỷ lệ trao đổi chất ở những người bệnh đái tháo đường cao bởi vì họ đổ mồ hôi rất nhiều và liên tục cảm thấy đói trong mùa hè. Một số hướng dẫn sau đây sẽ giúp người mắc bệnh đái tháo đường vượt qua mùa hè an toàn. [[{"fid":"2837","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 354px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Lưu ý chọn ăn những loại rau quả có lượng đường thấp Chú ý đến da Những người bị bệnh đái tháo đường nếu không kiểm soát tốt sẽ dễ bị nhiễm trùng da ở các dạng khác nhau như áp xe, mụn nhọt, mức độ từ nhẹ đến nguy hiểm. Các chuyên gia đái tháo đường cho biết: Vì mồ hôi quá nhiều nên đàn ông bị đái tháo đường có thiên hướng phát triển nấm candida quanh háng. Còn phụ nữ bị đái tháo đường thì dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu. Những vấn đề về da có thể tránh được bằng cách áp dụng các biện pháp phòng chống đơn giản sau: Tắm hàng ngày nhằm ngăn chặn vi khuẩn, nấm phát triển trên da. Tránh mặc trang phục bằng sợi tổng hợp, nên mặc đồ bằng cotton cho thoáng khí và thấm mồ hôi. Cần duy trì mức độ đường huyết phù hợp thông qua chế độ ăn uống và luyện tập. Những người bị bệnh đái tháo đường không kiểm soát tốt sẽ dễ mặc các bệnh liên quan đến nhiễm trùng đường hô hấp. Chú ý đến bàn chân ững người mắc bệnh đái tháo đường lâu năm dễ bị viêm loét bàn chân, chấn thương và nhiễm trùng chân bởi vì họ kiểm soát đường huyết kém, đặc biệt là ở nhiệt độ bất lợi (cực lạnh hoặc nóng). Vì thế, người bệnh đái tháo đường phải đặc biệt lưu ý đến đôi chân của mình và tránh phát triển nhiễm trùng chân. Khi đi giày dép mùa hè chúng ta dễ bị ra mồ hôi chân khiến chân bị ẩm, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm phát triển. Do quá nóng một số người còn đi chân trần nên việc bị tổn thương bàn chân do dẫm phải các vật sắc nhọn rất dễ xảy ra. Cần luôn đảm bảo rửa chân sạch sẽ và giữ khô, tránh để chân bị tổn thương và phải thường xuyên kiểm tra các dấu hiệu lạ ở chân. Cần uống bổ sung nước Thời tiết nóng bức làm cho cơ thể đổ mồ hôi nhiều dẫn đến mất nước. Nếu người mắc bệnh đái tháo đường không uống đủ nước, sẽ làm giảm lượng nước trong máu làm máu bị cô đặc, đường máu tăng và sẽ sản sinh xeton. Khi đường máu tăng, cơ thể người mắc bệnh đái tháo đường sẽ tăng bài tiết nước tiểu dẫn đến tình trạng mất nước ngày càng trầm trọng hơn. Trong trường hợp nặng, mất nước có thể ảnh hưởng đến chức năng của não và các cơ quan khác. Uống nhiều nước là cách tốt nhất để đối phó với mất nước nhẹ xảy ra dưới cái nóng mùa hè. Cơ thể đủ nước cũng giúp ngăn ngừa các biến động lượng đường trong máu cũng như các biến chứng như kiệt sức vì nóng hoặc đột quỵ nhiệt. Tuy nhiên, cần tránh sử dụng đồ uống có gas, nước ép trái cây, rượu và cafein. Tập thể dục là một phần thiết yếu để quản lý bệnh đái tháo đường type 2. Đặc biệt, thời tiết nóng bức sẽ dễ dẫn đến tâm trạng mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon miệng và tâm lý "ăn cho có", "ăn cho xong bữa". Thế nhưng, ăn uống không đủ chất và thiếu điều độ sẽ dẫn đến hiện tượng hạ đường huyết, rất nguy hiểm. Để tránh hiện tượng này người bệnh có thể chia nhỏ bữa ăn để đảm bảo không bị tụt đường huyết. Hạ đường huyết thường sinh ra những chất làm tăng huyết áp có thể gây ra tai biến mạch máu não. Còn với bệnh nhân tiểu đường có suy mạch vành thì hạ đường huyết cũng là một trong những yếu tố thuận lợi dẫn đến nhồi máu cơ tim. Không những thế, mùa hè cũng là mùa của nhiều loại trái cây có hàm lượng đường lớn như nhãn, vải, quýt, vú sữa, hồng xiêm, mít… Ăn quá nhiều các hoa quả này sẽ khiến đường huyết tăng cao, nếu không được kiểm soát hợp lý sẽ gây nhiều biến chứng cấp tính cũng như biến chứng mãn tính ở mắt, thận, thần kinh. Vì vậy, cần đặc biệt chú ý khi ăn những loại quả này để đảm bảo sức khỏe. Lời khuyên dành cho bệnh nhân - Uống thật nhiều nước kể cả khi bạn không khát, điều đó sẽ tránh cho bạn tình trạng mất nước. Hạn chế dùng rượu hay đồ uống chứa cafein như cà phê hay đồ uống thể thao, đồ uống tăng lực. Chúng có thể làm mất nước và tăng đường huyết. - Đo đường huyết trước, trong và sau khi hoặt động thể lực. Bạn cần phải điều chỉnh lượng insulin cần dùng. Hỏi ý kiến bác sĩ nếu bạn cần tư vấn về sự thay đổi trong liều lượng insulin. - Mặc đồ bó sát, nhẹ và sáng màu. - Đeo kính râm và đội mũ khi ra ngoài trời. Bởi vì ánh nắng mặt trời có thể làm tăng lượng đường trong máu. - Không nên đi chân trần, kể cả khi bạn ở trên bãi biển hay hồ bơi.   Theo Sức khỏe và đời sống

VIÊM NHIỄM PHỤ KHOA KHI MANG THAI – PHỤ NỮ MANG THAI CẦN BIẾT

Khi mang thai nếu có dấu hiệu bất thường ở bộ phận sinh dục, chị em cần đi khám điều trị tích cực, hạn chế tối đa tình trạng bệnh phụ khoa gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi.  Viêm nhiễm phụ khoa khi mang thai là do lượng nội tiết tố trong cơ thể thai phụ tăng giảm đột ngột. Hệ thống miễn dịch thay đổi, tạo môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn xâm nhập và phát triển. Viêm phụ khoa khi mang thai có thể ảnh hưởng xấu đến thai nhi. Tuy vậy, nếu được phát hiện, điều trị kịp thời, viêm âm đạo khi mang thai sẽ không gây ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ và bé. Vì vậy, nếu có biểu hiện đau, ngứa rát... vùng âm đạo, nghi ngờ viêm nhiễm phụ khoa, người mẹ mang thai nên đi khám để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời, bảo vệ an toàn cho cả hai mẹ con. [[{"fid":"2832","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"400","width":"600","style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"}}]] Các bệnh phụ khoa có thể gặp ở phụ nữ mang thai và gây ảnh hưởng đến thai nhi: * VIÊM NHIỄM NẤM CANDIDA Thường cư trú bên trong âm đạo, các vi nấm Candida này hoàn toàn vô hại khi môi trường giữ ở mức cân bằng. Tuy nhiên, trong giai đoạn thai nghén, sự tăng giảm nội tiết tố đột ngột làm thay đổi độ pH âm đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho vi nấm sinh sôi, phát triển và gây bệnh. Đặc điểm nhận dạng với các biểu hiện: khí hư trắng đục, lợn cợn hoặc đặc như màu sữa chua, âm hộ, âm đạo ngứa, đau kiểu bỏng rát. Việc điều trị viêm âm đạo khi mang thai do nấm Candida thường rất dễ dàng, tuy nhiên bệnh rất dễ tái đi tái lại nhiều lần. Mẹ bầu cần điều trị bệnh dứt điểm trước khi sinh con nhằm tránh lây cho bé trong quá trình sinh nở. Những nguy cơ của bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe của hai mẹ con cần chú ý: - Khi sinh con qua âm đạo, nấm có thể dính vào niêm mạc miệng hoặc gây viêm da do nấm cho trẻ sơ sinh. - Nguy hiểm hơn, thai nhi có thể bị suy dinh dưỡng trong tử cung hoặc tăng nguy cơ sinh non, sức đề kháng yếu, có thể bị viêm phổi do nấm… * VIÊM PHỤ KHOA DO NHÓM VI KHUẨN BACTERIAL VAGINOSIS (BV) Đây là bệnh thường gặp nhất đối với phụ nữ mang thai, cứ khoảng 5 người thì sẽ có 1 người bị nhiễm bệnh. Bệnh xảy ra khi các vi khuẩn tự nhiên sống trong âm đạo phát triển một cách quá mức trong thai kỳ, do ảnh hưởng của sự thay đổi hormone. Đặc điểm nhận dạng với các biểu hiện: tiết dịch âm đạo chuyển sang màu xám, có mùi hôi tanh… Người mẹ khi mang thai không được chủ quan với các dấu hiệu bất thường ở vùng kín. Bởi nhóm vi khuẩn này thường có mối liên quan đến các biến chứng thai kỳ nguy hiểm như: - Vỡ màng ối sớm, - Nhiễm trùng nước ối, - Nguy cơ sảy thai khi thai nhi đã lớn, tăng nguy cơ sinh non cao gấp 2 lần so với người không bị bệnh, - Con sinh ra bị nhẹ cân, - Viêm buồng tử cung sau khi sinh qua âm đạo hoặc sinh mổ… * VIÊM ÂM ĐẠO DO LẬU CẦU KHUẨN Lậu cầu khuẩn cũng là một nguyên nhân gây viêm ngứa phụ khoa khi mang thai có mức độ nguy hiểm cao. Nếu thời gian ủ bệnh kéo dài, người mẹ sẽ gặp các triệu chứng như: tiểu gắt, nước tiểu đục kèm theo mủ, ra nhiều huyết trắng nặng mùi và đau vùng bụng dưới… Bệnh phụ khoa khi mang thai do lậu cầu khuẩn gây ra nếu không được điều trị dứt điểm sẽ tác động xấu đến thai nhi: - Nguy cơ sinh non tăng lên 8%, gây viêm màng ối, vỡ ối, - Trẻ sinh ra nhẹ cân do suy dinh dưỡng bào thai - Bên cạnh đó, vi khuẩn lậu dễ lây nhiễm cho bé trong quá trình sinh thường qua ngã âm đạo. - Vi khuẩn từ chất dịch tiết ra ở đường sinh dục của người mẹ xâm nhập vào mắt của trẻ sơ sinh, gây nên tình trạng viêm kết mạc mắt ở trẻ sơ sinh. (từ ngày thứ 2 sau sinh, mắt của bé sẽ bị sung huyết, có nhiều mủ vàng, gây giảm thị lực và có thể dẫn đến mù lòa) * NHIỄM HPV TRƯỚC VÀ TRONG THAI KỲ HPV là một loại nhiễm trùng qua đường tình dục. Bạn sẽ có nguy cơ nhiễm virus HPV nếu bạn quan hệ với người bị nhiễm virus này. có hơn 150 loại HPV khác nhau tồn tại. Hầu hết các loại này không gây ra bất kỳ vấn đề gì. Tuy nhiên, có khoảng 40 chủng virus có thể lây nhiễm qua đường sinh dục và có thể gây ra mụn cóc sinh dục và ung thư. Những biểu hiện của virus HPV ở thai phụ như: - Mụn cóc là những bướu thịt màu trên da mọc đơn lẻ hoặc thành từng cụm - Mụn cóc sinh dục phát triển trên âm đạo, âm hộ, cổ tử cung hoặc hậu môn ở phụ nữ - Mụn cóc thông thường hình thành trên tay hoặc khuỷu tay. - Mụn cóc Plantar xuất hiện trên gót chân… Một điều lưu ý là, trong thai kỳ sự thay đổi nồng độ hormone góp phần làm cho mụn phát triển nhanh hơn so với bình thường. Cơ thể mẹ bầu cũng sản xuất một số lượng dịch tiết âm đạo - một môi trường thuận lợi cho mụn cóc phát triển mạnh. Tuy vậy, có một tin tốt là tình trạng nhiễm virus HPV khi mang thai sẽ không truyền cho thai nhi hoặc phát triển thành bệnh nhiễm trùng nào khác. Trong trường hợp mụn cóc ngăn chặn đường em bé chào đời, bác sĩ sẽ tiến hành phương pháp sinh mổ để đảm bảo an toàn cho mẹ lẫn thai nhi trong bụng.  Chị em phụ nữ mang thai khi gặp các dấu hiệu sau nên đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị: - Huyết trắng ra nhiều - Khí hư có mùi hôi - Khí hư có mầu bất thường - Ngứa vùng kín - Đau rát khi đi tiểu - Sưng đỏ hoặc mọc mụn nước xung quanh âm hộ - Nước tiểu có màu đục - Đau khi quan hệ tình dục   BS CKI: Phạm Thanh Huyền

SỐT XUẤT HUYẾT VÀ CÁCH PHÂN BIỆT VỚI SỐT PHÁT BAN

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm có diễn biến khó lường với số ca mắc cao. Nếu chủ quan, không chủ động phòng chống, dịch sốt xuất huyết có nguy cơ bùng phát, khó kiểm soát. SXH là bệnh lý nhiễm trùng cấp tính do virus Dengue gây ra, lây truyền qua trung gian muỗi vằn, hút máu người mắc bệnh rồi truyền sang cho người lành. Bệnh thường bùng phát thành dịch vào mùa mưa, thời tiết thất thường (có tính chất lan truyền nhanh, nhiều người mắc cùng lúc, trong cùng một khu vực). SXH diễn biến khá thất thường và dấu hiệu bệnh dễ nhầm lẫn với triệu chứng của các bệnh khác. Trẻ em, người cao tuổi và phụ nữ mang thai là những đối tượng dễ bị tổn thương do SXH. Trong mùa hè, nhiều loại bệnh do virus cũng dễ xảy ra như sởi, sốt phát ban. Để bảo vệ sức khỏe, mọi người cần có kiến thức để phân biệt dấu hiệu các bệnh nhằm ứng phó và chăm sóc phù hợp. Sốt phát ban và SXH đều có triệu chứng điển hình ban đầu là sốt cao nhưng 2 căn bệnh này hoàn toàn khác nhau. Để phân biệt sốt phát ban khác SXH như thế nào, chúng ta có thể dùng tay căng vùng da tại nốt phát ban hoặc thực hiện xét nghiệm chẩn đoán. [[{"fid":"2817","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 325px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Dùng tay căng vùng da tại nốt phát ban có thể phân biệt sốt xuất huyết và sốt phát ban. Dấu hiệu đặc trưng của sốt phát ban Sốt phát ban là bệnh lý đặc trưng bởi dấu hiệu sốt và nổi ban đỏ, do nhiều loại virus gây ra. Tuy nhiên, có 2 nguyên nhân thường gặp nhất gây ra sốt phát ban là virus sởi và virus gây bệnh Rubella. Bệnh sốt phát ban thường gặp ở trẻ nhỏ, chủ yếu lây lan qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi họng của người bệnh khi ho hoặc hắt hơi. Sau khoảng thời gian ủ bệnh (thường trong 7 ngày), trẻ bắt đầu xuất hiện những biểu hiện đặc trưng: Sốt: Những cơn sốt nhẹ hoặc sốt cao (từ 38-400C), thường sốt theo từng cơn. Nổi ban đỏ: hay xuất hiện trong vòng 12-24 giờ sau sốt. Nổi ban hay hồng ban với mức độ như thế nào tùy theo đặc điểm của virus gây bệnh và thể trạng của từng trẻ. Một đặc điểm có thể phân biệt sốt phát ban với các loại sốt khác, đó là ban trong sốt phát ban sẽ biến mất gần như lập tức nếu thực hiện căng da tại vùng nổi ban. Dấu hiệu phát ban xuất hiện trong khoảng 3-5 ngày rồi lặn hẳn. Một số biểu hiện kèm theo: chảy nước mũi, hắt hơi, mệt mỏi, uể oải, đỏ mắt, trẻ chán ăn, quấy khóc, rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy. Ngoài ra, một số bệnh nhi có thể kèm theo triệu chứng đau họng, sưng hạch cổ. Hầu hết các trẻ bị sốt phát ban từ ngày thứ 4 trở đi sẽ giảm sốt dần, ăn uống được. Tuy nhiên, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, sốt phát ban có thể gây ra biến chứng. Đặc biệt, bệnh càng trở nên nguy hiểm đối với các trẻ có sức đề kháng kém, suy dinh dưỡng, trẻ dưới 12 tháng tuổi, thể trạng suy nhược. Một số biến chứng thường gặp do sốt phát ban như: viêm phổi nặng, viêm tai giữa, viêm màng não, viêm loét giác mạc (nguy cơ gây mù vĩnh viễn), suy dinh dưỡng nặng... Nhật biết SXH Nhận biết người mắc SHX căn cứ vào các triệu chứng như: Sốt: Bệnh nhân có biểu hiện sốt cao đột ngột từ 39-400C, liên tục trong 2-7 ngày. Biểu hiện sốt không thuyên giảm khi dùng thuốc hạ sốt. Xuất huyết: Khi sốt bắt đầu giảm thì bệnh nhân chuyển sang biểu hiện phát ban xuất huyết, khoảng từ ngày thứ 3-4 kể từ khi có sốt. Các nốt ban dạng chấm đỏ hoặc bầm máu ở da, có khi xuất huyết ở các vùng niêm mạc như chảy máu chân răng, chảy máu cam, mắt đỏ kèm theo đau bụng, nôn ói. Có khoảng 30% số ca mắc SXH trở nặng vào ngày thứ 3-7 sau khi khởi phát bệnh. Lưu ý những trường hợp bệnh nhi béo phì hoặc dưới 12 tháng tuổi, nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, bệnh có nguy cơ gây ra biến chứng nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, thậm chí đe dọa đến tính mạng của trẻ. Khác biệt giữa sốt phát ban và SXH Cách đơn giản nhất để phân biệt sốt phát ban khác SXH là dùng ngón tay cái và ngón trỏ để căng vùng da tại nốt phát ban (vị trí nổi ban đỏ) hoặc căng vùng da bị sung huyết. Sau khi căng da ra, nếu chấm đỏ mất đi, buông ra thì màu đỏ hồi phục ngay cho thấy đây là ban của sốt phát ban. Ngược lại, nếu vẫn thấy chấm đỏ li ti không lặn đi sau khi căng da thì đó là phát ban do SXH. Lưu ý: dù là sốt phát ban hay SXH thì cũng đều do virus gây ra và ẩn chứa sự nguy hiểm nếu không phát hiện và điều trị kịp thời. Vì vậy, khi có dấu hiệu sốt, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được thăm khám, tư vấn và điều trị kịp thời. Tuy từng trường hợp bệnh, bác sĩ sẽ có giải pháp điều trị. Người bệnh nên tuân thủ chỉ định của bác sĩ để bệnh nhanh khỏi, tránh các biến chứng đáng tiếc.   Theo Sức khỏe và đời sống

PHÒNG TRÁNH ĐỘT QUỴ MÙA NẮNG NÓNG

Người cao tuổi (định nghĩa lão là từ 60) dễ bị stress và gặp nhiều vấn đề sức khỏe do nhiệt độ tăng cao hơn người trẻ tuổi vì nhiều lý do: giảm khả năng thích nghi hoặc điều hòa cơ thể khi nhiệt độ đột ngột thay đổi; tình trạng bệnh lý mạn tính có thể tiến triển nặng lên khi thay đổi nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến cơ thể người cao tuổi. Thời tiết nắng nóng, sự bài tiết mồ hôi nhiều nên dễ mất nước nhiều quá còn có thể dẫn đến hiện tượng cô đặc máu dễ tăng nguy cơ đột quỵ cấp. Cơ thể dễ bị tổn thương vì nóng Khi nhiệt độ tăng cao vào những tháng ngày mùa hè nóng bức, người cao tuổi sẽ hay gặp các bệnh về đường hô hấp như viêm họng, viêm mũi xoang, viêm phổi. Thay đổi nhiệt độ đột ngột vì “tắm giải nhiệt” có thể gây sốc nhiệt ở người lớn tuổi, một trong các triệu chứng thường gặp là đau đầu do co thắt mạch máu não. Thời tiết nắng nóng, sự bài tiết mồ hôi nhiều nên dễ mất nước nhiều quá nên có thể dẫn đến hiện tượng cô đặc máu dễ tăng nguy cơ đột quỵ cấp. Ngoài ra, mồ hôi tăng tiết, người lớn tuổi còn gặp các vấn đề về da như dị ứng, nổi sẩn đỏ, vùng kẽ tay hay vùng nách - bẹn dễ mắc các bệnh nấm da… [[{"fid":"2815","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 300px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Khi nhiệt độ tăng cao bất thường, nếu không biết bảo hộ và phòng ngừa khi ra ngoài nắng, có thể dẫn tới tử vong Nguy cơ đột quỵ Đa số, người ta thường đề cập đến các bệnh lý hô hấp, cảm cúm thoáng qua, rối loạn tiêu hóa vào mùa nắng nóng ở người cao tuổi. Nhưng, bệnh lý đau đầu có thể dẫn đến đột quỵ cũng cần chú ý đối với người cao tuổi. Một số trường hợp người lớn tuổi khác do lười uống nước nên bị đột quỵ. Tình trạng mất nước nhiều quá dẫn đến co mạch, giảm lưu lượng thể tích máu nên thiếu máu lên não, tác động tiêu cực lên não phải khiến bệnh nhân bị tai biến mạch máu não. Một nguyên nhân nữa khiến người cao tuổi dễ có nguy cơ bị đột quỵ trong mùa nắng nóng hiện nay đó chính là không gian ở thường gắn máy lạnh. Người cao tuổi ở trong phòng máy lạnh, đột ngột bước ra bên ngoài, nóng với nhiệt độ cao hơn, sẽ hay bị choáng, xây sẩm, ngất. Tùy đáp ứng của mỗi bệnh nhân, nhiều trường hợp sốc nhiệt có thể dễ đưa tới đột quỵ, tử vong. Ngoài ra, đối với những bệnh nhân lớn tuổi có kèm theo theo bệnh nền tim mạch, nên khi thay đổi của cơ thể phản ứng với nắng nóng có thể làm tim đập nhanh lên, bệnh nhân càng cảm thấy khó chịu; hoặc đau ngực, hoặc ảnh hưởng huyết áp khi mất nước nhiều làm tụt huyết áp… Nếu không được bù đủ nước, bệnh nhân có thể bị suy tim cấp trên nền bệnh lý tim mạch có sẵn hoặc có thể nhồi máu cơ tim… Nhiệt độ tăng trong những tháng hè có thể làm tăng nguy cơ tử vong ở những người cao tuổi có bệnh nền, như: Bệnh phổi mạn tính tăng nguy cơ tử vong tăng 3,7%; nguy cơ tử vong ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường là 4%; nguy cơ tử vong do đau tim hoặc suy tim là từ 2,8 - 3,8%. Các nhà nghiên cứu thuộc ĐH Harvard (Mỹ) cũng tìm thấy, tỷ lệ tử vong ở những người trên 65 sẽ giảm 1 - 2% ở những thành phố có nhiều vùng cây xanh hơn. Xử trí đúng cách với người cao tuổi Khi cơ thể ra nhiều mồ hôi vì nóng không nên tắm nước lạnh ngay mà phải ngồi nghỉ ngơi chừng 30 phút, để mồ hôi khô ráo, lỗ chân lông thu nhỏ lại, không giãn ra mới được đi tắm. Vệ sinh cơ thể hàng ngày để giảm các vấn đề về nấm da. Ước tính, cơ thể con người, nước chiếm từ 50% - 70% trọng lượng cơ thể, ở người cao tuổi nước chiếm khoảng 50% trọng lượng cơ thể. Một ngày, qua con đường tiêu hóa, con đường tiết niệu, con đường hô hấp và bài tiết qua da chúng ta thải ra trung bình 2l – 2,5l nước trong cơ thể. Do vậy, người lớn tuổi nên bù vừa phải từ 1,5l - 2l nước/ngày. Trong những đợt nắng nóng, người cao niên nên uống nước đun sôi để nguội và các loại nước trái cây (nước ép trái cây, nước dừa, nước cam..) thường xuyên, với một nguyên tắc là dinh dưỡng đầy đủ vào mỗi bữa ăn, cũng như uống nước lượng nước đầy đủ cho ngày, không nên uống nước nhiều và nhanh trong cùng một lúc. Ngoài ra, người lớn tuổi tránh uống rượu cũng như các loại nước uống có chất kích thích. Trong thời gian này, hệ miễn dịch của người lớn tuổi sẽ gặp rất nhiều thử thách. Vì vậy, người chăm sóc cũng như người nhà cần chú tâm bổ sung đa dạng thực phẩm, mỗi bữa ăn nên giàu rau củ quả tươi giàu các vitamin thiết yếu như vitamin C. Đồng thời, trong những ngày nắng nóng, để giúp tăng khẩu vị cho người cao tuổi, chúng ta nên chú trọng cho người cao tuổi ăn các bữa ăn nhỏ, nhẹ và dàn trải ra trong ngày. Bao gồm các loại trái cây và rau quả tươi như đào, mận, quả mọng, dưa hấu, mía, xoài, các loại trái cây có múi, bí ngô, bầu, dưa chuột và hành tây vì chúng dễ tiêu hóa, có đặc tính làm mát, hữu ích cho các vấn đề về dạ dày như giảm dịch vị axit và sẽ bổ sung nước cho cơ thể. Đối với những trường hợp người cao tuổi gặp các biến cố hay bất cứ một vấn đề sức khỏe nào trong ngày nắng nóng, người nhà cần ngay lập tức liên hệ với cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời, tránh các diễn biến nặng hơn.   Theo Sức khỏe và đời sống

ĐỂ KHÔNG BỊ VIÊM HỌNG MÙA NÓNG

Uống nước đá thường xuyên, sử dụng máy lạnh quá lâu, để quạt hướng thẳng vào người... là những thói quen gây viêm họng mà nhiều người hay mắc phải trong mùa hè. Viêm họng là một bệnh phổ biến, xảy ra ở mọi đối tượng và đặc biệt dễ mắc vào những ngày hè nóng bức. Nguyên nhân gây nên tình trạng này là do một số thói quen mà nhiều người thường mắc phải khi cố gắng giải nhiệt cho cơ thể. Những tác nhân gây viêm họng Viêm họng là tình trạng niêm mạc họng và biểu mô dây thanh bị tổn thương viêm do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do vi khuẩn, virus, nấm, dị ứng... Sự thay đổi nhiệt độ môi trường và cơ thể diễn ra đột ngột nên niêm mạc họng thường chưa đủ thời gian để làm ấm như chức năng vốn có, kích thích niêm mạc họng mà nhanh chóng gây bệnh. [[{"fid":"2794","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 313px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Súc miệng nước muối pha loãng để phòng viêm họng. Nguyên nhân viêm họng thường gặp nhất là do vi khuẩn: phế cầu, Hemophilus Influenzae, tụ cầu và nguy hiểm nhất là liên cầu ß tan huyết nhóm A (khoảng 20%), liên cầu, Friedlander, Pfeiffer... Thời đại công nghiệp hóa, thói quen sử dụng điều hòa ngày càng phổ biến. Nếu điều hòa không được vệ sinh thường xuyên thì đây sẽ là một yếu tố thuận lợi làm cho nấm phát triển và phát tán vào không khí trong nhà, khi niêm mạc họng suy yếu, nấm sẽ gây ra viêm họng. Ngoài ra, trong mùa hè do tần suất sử dụng đồ uống lạnh tăng đột ngột gây viêm họng, khàn tiếng. Nguyên nhân vì uống nước đá lạnh nhiều sẽ làm khô lớp nhầy bảo vệ niêm mạc cổ họng. Nó gây nên hiện tượng bỏng lạnh, từ đó khiến cổ họng bị rát và tổn thương. Vì thế vi khuẩn dễ xâm nhập, dẫn đến viêm họng cấp. Nhiều yếu tố làm cho những người có cơ địa dị ứng như các loại phấn hoa có trong mùa hè (hoa sữa, hoa mộc, hoa sói...). Thức ăn mùa hè như các loại kem, các loại nước giải khát... Niêm mạc họng và thanh quản bị kích thích, phù nề gây ngứa họng, rát họng và ho cơn đồng thời dị ứng cũng lan nhanh xuống thanh quản gây khàn tiếng, ho, thậm chí khó thở thanh quản (phù Quinke thanh quản). Biểu hiện của bệnh Người bệnh có cảm giác ớn lạnh, gai rét kèm theo đau mỏi người (virus). Hội chứng nhiễm khuẩn: sốt, môi khô, lưỡi bẩn (vi khuẩn). Cảm giác khô họng, rát họng, đau họng, nuốt đau nhói lên tai, ho khan trong giai đoạn đầu sau đó ho có đờm. Khi khám, bác sĩ sẽ thấy niêm mạc họng đỏ, tăng xuất tiết; nếu do vi khuẩn trên niêm mạc họng và amidan sẽ có giả mạc màu trắng hoặc vàng xám bao phủ. Bệnh viêm họng cấp thường diễn ra trong vòng 3 - 4 ngày, nếu sức đề kháng tốt hoặc được điều trị đúng, bệnh sẽ lui dần, các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh. Nhưng khi sức đề kháng yếu (trẻ em, người cao tuổi), không được chữa trị kịp thời, bệnh diễn biến phức tạp hơn, nặng hơn và có thể gây biến chứng như viêm tai, viêm mũi, viêm thanh quản, viêm phế quản, viêm xoang hoặc nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm phổi nặng hoặc trở thành viêm họng mạn tính. Trong trường hợp viêm họng do vi khuẩn liên cầu nhóm A, có thể gây nên bệnh thấp tim tiến triển hoặc viêm cầu thận cấp. Phòng ngừa và điều trị Tùy từng trường hợp mà các bác sĩ sẽ kê thuốc cho phù hợp như: kháng sinh, kháng viêm đường uống, hạ sốt, giảm đau, giảm phù nề, chống dị ứng... Khi bị viêm họng, chăm sóc và điều trị tại nhà cũng cần được lưu ý. Nếu bệnh nhân bị viêm họng do virus, cần chú ý uống nhiều nước để ngăn ngừa tình trạng mất nước; Súc họng bằng nước muối (1 thìa cà phê muối trong 50ml nước). Có thể dùng máy tạo ẩm, nghỉ ngơi cho tới khi thấy khỏe mạnh. Nếu đau họng có thể dùng thuốc ngậm họng để giảm đau và ngứa họng. Có thể dùng một số thuốc từ thiên nhiên để điều trị: mật ong, cam thảo,... Khi bị đau họng, gây cảm giác nóng rát và khó chịu làm uống hoặc ăn khó hơn, thậm chí gây tổn thương niêm mạc viêm của vùng họng. Vì vậy, người bệnh cần sử dụng thực phẩm mềm và rất dễ nuốt để hạn chế kích thích niêm mạc họng khi đang trong tình trạng sung huyết. Thực phẩm và đồ uống ấm cũng có thể giúp làm dịu cổ họng. Lời khuyên của thầy thuốc Khí hậu nắng nóng thường gây ra hiện tượng khát nên phải uống nhiều nước. Tuy nhiên, nước có nhiệt độ thấp, sự chênh lệch nhiệt độ khi uống dẫn đến hiện tượng kích thích niêm mạc họng, thanh quản gây viêm. Khi sử dụng thực phẩm, nên chú ý đừng để quá lạnh, nhất là những người đã biết có cơ địa dị ứng. Mùa hè, cần giữ ấm vùng cổ khi sử dụng điều hòa nhiệt độ dưới 26 độ. Nếu điều hòa không được vệ sinh thường xuyên sẽ là yếu tố thuận lợi làm cho nấm phát triển và phát tán vào không khí trong nhà, khi niêm mạc họng suy yếu nấm sẽ gây viêm họng. Mùa hè lại là mùa khô, nóng nên dễ phát tán bụi bẩn ra không khí ở khu vực rộng, do vậy nên dùng bảo hộ lao động đúng quy định khi làm việc trong môi trường ô nhiễm bụi bẩn hoặc hóa chất.   Theo Sức khỏe và đời sống

ĐIỂM MẶT BỆNH DA THƯỜNG GẶP VÀO MÙA HÈ

Mỗi khi môi trường bị ô nhiễm, khí hậu nóng bức thì da là một trong các cơ quan của con người sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp. Bệnh của da có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng ở trẻ em và người cao tuổi dễ mắc bệnh về da hơn do trẻ em thì sức đề kháng của cơ thể chưa được hoàn thiện và người cao tuổi thì sức đề kháng càng ngày càng bị suy giảm. Các bệnh da thường gặp mùa hè Rôm sảy là bệnh ngoài da thường gặp nhất ở trẻ em trong những ngày hè nóng nực, đặc biệt là những trẻ có nhiều mồ hôi do tuyến mồ hôi bị bít kín, không thoát ra ngoài được. Viêm da do nhiễm khuẩn cũng rất hay gặp, đó là viêm da do liên cầu (Streptococcus) hoặc do tụ cầu, đặc biệt là tụ cầu vàng. Loại viêm da này thường gặp ở trẻ nhiều hơn. Có thể bị nhiễm khuẩn da bởi liên cầu hoặc tụ cầu ở một vùng nào đó (da đầu, trán...) hoặc có thể rải rác toàn thân. Bệnh da do nhiễm khuẩn cũng gây ngứa, các nốt da bị viêm thường có mụn mủ. Đối với viêm da do liên cầu thì các mụn mủ thường rất nhỏ, bằng đầu đinh ghim nhưng đối với mụn mủ do tụ cầu thì to hơn, thực chất các mụn mủ này là các ổ áp-xe, nếu ở da đầu thì người ta hay gọi là chốc đầu. Viêm da do tụ cầu đáng ngại nhất là loại viêm da do tụ cầu vàng (S. aureus) bởi vì vi khuẩn này có độc lực cao, sức đề kháng rất mạnh và kháng lại hầu hết các loại kháng sinh, ngay cả các loại kháng sinh thế hệ mới. Viêm da dị ứng hay còn gọi là viêm da cơ địa gặp ở một số cơ thể có cơ địa dị ứng. Viêm da dị ứng điển hình là loại bệnh chàm. Bệnh chàm thường có gây ngứa, có thể là chàm mạn tính hoặc chàm cấp tính. Hầu hết bệnh chàm thường có tiến triển thành chàm mạn tính. Đối với bệnh chàm có nhiều dạng khác nhau như chàm tiếp xúc (do da thường xuyên tiếp xúc với các dị nguyên), chàm tiết bã (do cơ địa tăng tiết bã nhờn), chàm vi khuẩn (bệnh chàm có kèm theo bội nhiễm vi khuẩn) hay chàm thể tạng. Vùng da thường xuất hiện bệnh chàm là má, cánh mũi, cằm, nách, bẹn, khuỷu tay, khoeo chân. Biểu hiện của bệnh chàm điển hình nhất là ngứa, nổi ban đỏ, nổi mụn nước nhỏ li ti. Các mụn nước có thể tự khô rồi tróc vảy hoặc vỡ một cách tự nhiên hoặc do ngứa mà người bệnh không kiềm chế được, phải gãi làm xây xước da và vỡ các mụn nước của chàm. Nếu người bệnh không kiềm chế được (hoặc không kiềm chế được trẻ), để người bệnh gãi nhiều sẽ gây chảy máu và bội nhiễm vi khuẩn gây mưng mủ. [[{"fid":"2762","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 510px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Viêm da ứ trệ - bệnh da loại này hay gặp ở người trưởng thành, nhất là người cao tuổi. Biểu hiện của bệnh là có các đám da đỏ ở vùng cổ chân, da thường thô, ráp, ngứa nhiều, da vùng bị bệnh thường bị dày lên, ngứa và xuất hiện mụn nước. Nếu gãi làm vỡ các mụn nước sẽ bị nhiễm khuẩn tạo thành các mụn mủ. Một bệnh khác của da làm cho cả người bệnh và người tiếp xúc thấy ái ngại là bệnh vảy nến. Bệnh vảy nến là một bệnh đáng lo ngại nhất của da. Người ta gọi bệnh vảy nến bởi vì vảy có màu trắng đục, bóng giống màu của nến. Một số bệnh vảy nến thuộc loại nặng như vảy nến thể khớp hoặc bệnh vảy nến đỏ da toàn thân. Bệnh vảy nến ít nguy hiểm nhưng làm cho người bệnh khó chịu và những người xung quanh thấy ái ngại khi tiếp xúc vì nhìn thấy vảy có nhiều tầng chồng lên nhau, dễ bong ra, nhất là khi cạo ra có các mảnh vụn trắng như phấn. Hơn nữa, vảy tạo ra rất nhanh, bong lớp này  thì xuất hiện lớp khác ngay. Bệnh hắc lào: bệnh này do một loại nấm gây ra và có khả năng lây lan mạnh cho các vùng da khác trong cơ thể và lây cả cho người khác nếu ngủ chung giường, mặc chung quần áo, chăn màn, dùng chung khăn tắm... Ngoài ra, người ta cũng thường thấy một số khác bệnh của da như bệnh tổ đỉa, viêm nang lông, lang ben... Phòng bệnh ngoài da thế nào? Bệnh ngoài da có nhiều loại khác nhau, có loại biết được căn nguyên nhưng có những loại bệnh chưa xác định được căn nguyên. Việc phòng bệnh cho da nói chung là cần vệ sinh da sạch sẽ hằng ngày như tắm, gội. Mỗi lứa tuổi cũng có các biện pháp vệ sinh da khác nhau. Không nên dùng các loại xà phòng có độ tẩy cao và đã từng gây dị ứng khi tiếp xúc các lần dùng trước đó. Môi trường sống cần trong sạch, ít bụi. Không ăn các loại thức ăn đã từng bị dị ứng vì nó. Không mặc quần áo chung, không dùng khăn chung và khi biết người có bệnh về da có khả năng lây cho người khác thì không nên nằm chung giường, chiếu, đắp chung chăn. Khi nghi ngờ bị bệnh về da, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa da liễu để biết được bệnh, tình trạng của bệnh  cũng như sẽ có chỉ định điều trị thích đáng và bác sĩ khám bệnh sẽ hướng dẫn phương pháp phòng ngừa thích hợp cho từng người. Phòng bệnh rôm sảy cho trẻ bằng cách cho trẻ mặc quần áo rộng, thấm mồ hôi, tốt nhất là chất liệu cotton. Cho trẻ chơi ở những nơi thoáng mát, tắm gội thường xuyên và ăn uống đồ mát như bột sắn, đỗ đen...   Theo Sức khỏe và đời sống

Trang