CẤP CỨU (24/24):
02053.800.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

Cảnh báo nguy hiểm của việc tự ý dùng thuốc nam

Vừa qua, khoa Hồi sức cấp cứu – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận bệnh nhân  Lưu Văn V (43 tuổi, Chu Túc – Văn Quan – Lạng Sơn chẩn đoán suy thận cấp - ứ nước thận hai bên. Trước vào viện, bệnh nhân có khám tại phòng khám tư và biết mình bị sỏi thận. Bệnh nhân nghe người quen mách dùng thuốc nam chửa khỏi bệnh sỏi thận. Không ngần ngại bệnh nhân đã tự mua thuốc nam sắc uống. Sau uống một ngày bệnh nhân thấy mệt mỏi, bụng chướng căng, không ăn uống được, không đi tiểu. [[{"fid":"394","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 668px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Hiện tại, bệnh nhân vẫn đang được điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu Với tình trạng của bệnh nhân Lưu Văn V, bác sỹ đã đặt cathete tĩnh mạch trung tâm để truyền dịch, dinh dưỡng và thải độc, đặt sonde bàng quang dẫn lưu nước tiểu. Thận là cơ quan đào thải kali chủ yếu của cơ thể. Trong khi đó một số cây cỏ, thảo dược khô lại có hàm lượng kali khá cao. Do vậy việc tự ý dùng thuốc nam sẽ gây nguy hại cho thận. Các bác sỹ cũng cho biết việc người dân tự ý dùng thuốc nam chữa bệnh không phải hiếm, rất nhiều bệnh nhân đã rơi vào tình trạng suy gan, suy thận, nhiễm độc toàn thân, khó cứu chữa. [[{"fid":"396","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Trường hợp bệnh nhân V – suy thận cấp do dùng thuốc nam một lần nữa là lời cảnh báo cho người dân về việc tự ý dùng thuốc nam. Để ngăn ngừa những tai biến khi dùng thuốc, bệnh nhân cần phải tuân thủ triệt để hướng dẫn của bác sĩ, không tùy tiện sử dụng khi không có chỉ định của Bác sỹ chuyên khoa, không tự ý nâng liều và kéo dài ngày dùng thuốc. Phạm Lan Anh - Tổ Công tác xã hội

Bệnh chửa trứng - tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm

Vừa qua, khoa Phụ sản - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận bệnh nhân Triệu Thị M (35 tuổi, Địa chỉ: Khuổi Khín , Khánh Long, Tràng Định,Lạng Sơn). Do điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, đường xá xa xôi nên bệnh nhân M mặc dù tắc kinh bảy tháng nhưng không đi khám, không siêu âm. Đến ngày 15/4/2017, bệnh nhân đau bụng, ra máu âm đạo. Sau thăm khám và làm các xét nghiệm cận lâm sàng bệnh nhân được chẩn đoán “ Sót rau sau sảy thai trứng/ Thiếu máu nặng”. [[{"fid":"370","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 668px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Hiện tại, bệnh nhân M vẫn đang được điều trị tại khoa Phụ sản Chửa trứng là tình trạng thai nghén bất thường, trong đó một phần hay toàn bộ bánh rau bị thoái hóa thành các túi chứa dịch to, nhỏ, dính vào nhau thành từng chùm giống như trứng ếch. Do đó thai nhi sẽ không phát triển và sẽ bị sảy. Nguyên nhân gây chửa trứng đến nay vẫn chưa rõ ràng, người ta chỉ thấy các tế bào nuôi ở rau thai bị loạn sản và tăng sinh quá mức tạo thành các túi chứa dịch. Bệnh thường gặp ở phụ nữ dưới 20 tuổi hoặc trên 40 tuổi; những người có thai nhiều lần; những người có mức sống thấp, chế độ dinh dưỡng không đầy đủ như thiếu hụt vitamin A, acid folic trong khẩu phần ăn. Biểu hiện của bệnh chửa trứng Ban đầu, người bị chửa trứng cũng có biểu hiện mang thai giống như những trường hợp mang thai bình thường khác, trước hết là tắt kinh, sau đó là nghén. Tuy nhiên những người chửa trứng thường nghén rất nặng, nôn nhiều, ăn vào lại nôn, nôn ra mật xanh, mật vàng, người gầy sút. Một số trường hợp còn bị phù và cao huyết áp. Bên cạnh nghén nặng, thai phụ còn bị ra máu âm đạo (hay xảy ra từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 16 của thai kỳ), máu đen hoặc đỏ, dai dẳng, ít một, có thể tự cầm trong một thời gian ngắn. Do mất máu nên thai phụ mệt mỏi, xanh xao, niêm mạc nhợt, hay bị hoa mắt chóng mặt. Một triệu chứng điển hình nữa là tử cung của người chửa trứng to quá mức, không tương xứng với tuổi thai, có trường hợp chửa trứng mới 2-3 tháng mà tử cung đã to như người có thai bình thường 5-6 tháng. Nhưng khi sờ, nắn bụng thai phụ thì thấy mềm và không thấy khối thai, nếu siêu âm thì không thấy âm vang thai mà chỉ thấy hình ảnh của các túi dịch. Mặt khác nhiều người bệnh còn bị hồi hộp, run tay, vã mồ hôi do hormon thai nghén tăng cao. Ngoài ra, trong quá trình tiến triển của chửa trứng dễ xuất hiện các biến chứng rất nguy hiểm như sảy thai trứng gây bung huyết nặng dẫn  đến thiếu máu nặng (trường hợp bệnh nhân M đã phải truyền 6 đơn vị máu) hoặc thủng tử cung do thai trứng ăn sâu vào lớp cơ tử cung. [[{"fid":"371","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"height":"185","width":"272","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Bánh rau bị thoái hóa thành các túi chứa dịch to, nhỏ, dính vào nhau thành từng chùm giống như trứng ếch Một biến chứng ác tính nguy hiểm nữa của chửa trứng là ung thư tế bào nuôi (khoản 10% - 30% các ca chửa trứng). Ung thư nguyên bào nuôi thường xâm lấn sâu vào lớp cơ tử cung gây hoại tử chảy máu và di căn xa đến các phủ tạng khác của cơ thể, làm việc điều trị rất khó khăn. Các biểu hiện của chửa trứng rất đa dạng, dễ nhầm với một số bệnh lý sản phụ khoa khác như thai chết lưu, u xơ tử cung, chửa ngoài tử cung... Do đó để chẩn đoán chính xác bệnh phải khám chuyên khoa sản, làm một số xét nghiệm như siêu âm bụng, định lượng HCG, estrogen máu, làm công thức máu, chụp X quang bụng. Phòng và điều trị bệnh chửa trứng Khi phát hiện chửa trứng cần phải nạo hút thai trứng sớm để phòng sảy thai gây băng huyết. Sau 2 - 3 ngày lại phải nạo lại lần thứ hai và sau nạo phải dùng kháng sinh để phòng nhiểm trùng. Riêng đối với những phụ nữ tên 40 tuổi hoặc đã có đủ con không muốn có con nữa thì có thể áp dụng biện pháp cắt toàn bộ tử cung mà không cần nạo trứng trước. Mục đích của cắt tử cung là làm giảm nguy cơ biến chứng thành bệnh ung thư tế bào nuôi. Một điểm cần lưu ý nữa là sau khi nạo thai trứng thì bệnh nhân phải được theo dõi ngoại trú và khám định kỳ trong thời gian ít nhất là hai năm theo chỉ định của bác sĩ để phát hiện và xử lý kịp thời các biến chứng của chửa trứng. Trong thời gian theo dõi, bệnh nhân không được có thai, chỉ sau hai năm theo dõi mà không thấy có biến chứng gì thì mới nên có thai lại. Và lần có thai sau thời hạn hai năm này cũng phải được khám và theo dõi chặt chẽ.  Để phòng tránh chửa trứng ngoài vệc quản lý thai nghén phụ nữ cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, sinh đẻ có kế hoạch, không sinh quá gần nhau.  Phạm Lan Anh - Tổ Công tác xã hội

Nguy cơ bỏng mắt khi làm đẹp

Trong thời gian qua, Khoa Mắt Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận 3 trường hợp bệnh nhân bị bỏng giác mạc. Cả 3 bệnh nhân đều bị tai biến do sử dụng thuốc tê khi thực hiện các thủ thuật làm đẹp tại mắt như xăm mí, phun lông mày... Đây là loại thuốc tê bề mắt, sử dụng ngoài da để làm giảm đau khi thực hiện các thủ thuật trên da (tên gọi: Lidocain 30%). Loại thuốc này có nồng độ rất cao, đường tiêm chỉ là là 2% và đường xịt là 10% nên khi tiếp xúc với bề mặt niêm mạc mắt sẽ gây bỏng rất nặng, nếu không xử trí ban đầu đúng cách và kịp thời sẽ để lại di chứng không thể khắc phục được. [[{"fid":"368","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 281px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Thuốc gây tê sử dụng trong các thủ thuật làm đẹp như xăm mí, phun lông mày... Ngay khi bị thuốc rơi vào mắt, bệnh nhân sẽ cảm thấy đau rát, chảy nước mắt, nhìn mờ, thậm chí không thể mở được mắt. Tại vị trí mắt bị tổn thương có triệu chứng bỏng da mi, kết mạc bỏng xung quanh đỏ rực. Các bác sĩ đã phải nhanh chóng rửa sạch mắt bằng dung dịch sát khuẩn để trung hoà ngay lập tức các tác nhân gây bệnh. Người bệnh sẽ được điều trị và dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Sau xử trí, các bệnh nhân đều ổn định, thị lực dần phục hồi. Với trường hợp bệnh nhân bị tổn thương quá nặng phải chuyển lên tuyến trên.  Làm đẹp là nhu cầu thiết yếu của chị em phụ nữ, tuy nhiên, cần phải thận trọng khi sử dụng các loại thuốc gây tê, tránh để lại di chứng đáng tiếc. Khi bị thuốc tê rơi vào mặt, phải nhanh chóng xử trí ngay tại chỗ. Đây là yếu tố quan trọng, quyết định tiên lượng bệnh. - Ngay khi bị hoá chất bắn vào mắt, phải nhanh chóng dùng nước sạch để rửa mắt hoặc các dung dịch trung tính như Natricloride 0,9%... để làm sạch, trung hoà ngay lập tức các tác nhân gây bệnh. - Tránh tác động mạnh, bụi bẩn, tuyệt đối không được rụi mắt để tránh cọ xát vùng mắt tổn thương. - Chuyển người bệnh tới cơ sở y tế gần nhất để xử trí.    

Xử lý khi bị chó cắn

Bị chó cắn là tai nạn phổ biến, rất dễ gặp phải, đặc biệt đối với trẻ nhỏ. Khi bị chó cắn nếu không xử lý vết thương đúng cách và kịp thời nhất là vào mùa nắng nóng, nạn nhân rất có thể bị mắc bệnh dại do virus dại gây nên. Vừa qua, Khoa mắt Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận bé Nông Thị H (13 tuổi, Địa chỉ: Hữu Lân - Lộc Bình – Lạng Sơn). Trên đường đi học về, cháu bé bị 1 con chó lao ra, nhảy lên cắn vào mặt. Cháu đã được đưa vào trạm y tế xã xử trí, sau đó chuyển ra Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn. Bác sĩ chẩn đoán bé bị vết thương mi mắt, vết thương môi và gãy răng 1.4. [[{"fid":"361","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"height":"256","width":"192","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]]                   Bé Nông Thị H đang điều trị tại khoa mắt Chó cắn là tai nạn phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, có thể gây bệnh dại. Đây bệnh truyền nhiễm nếu không phát hiện và xử trí kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng. Bệnh thường gia tăng ở các vùng nông thôn. Khi bị chó cắn, cần chú ý những điều sau: - Trấn tĩnh người bị chó cắn. - Xem xét vị trí vết thương rồi tiến hành rửa vết thương bằng xà phòng dưới vòi nước mạnh ít nhất là 5 phút, kể cả vết thương chỉ trầy xước da. Chú ý rửa tay thật sạch trước và sau khi sơ cứu. - Dùng dung dịch sát khuẩn (có thể là cồn 70 độ hoặc dung dịch iod) để sát trùng vết thương. - Dùng miếng vải sạch phủ lên vết thương và băng hờ lại, tránh băng kín vết thương. - Sau khi đã thực hiện các bước trên, cần đưa người bị thương đến cơ sở y tế để được các bác sĩ kiểm tra và có chỉ định thích hợp. Tiêm phòng cho trẻ: Nói chung, người bị chó cắn đều nên được tiêm phòng càng sớm càng tốt. Người bị chó cắn sẽ được tiêm vắc-xin phòng dại và tùy theo tình trạng vết thương cùng với tiền sử tiêm phòng uốn ván trước đây mà bác sĩ sẽ chỉ định tiêm phòng uốn ván. Ngoài ra, người bị chó cắn có thể được tiêm huyết thanh kháng dại nếu vết cắn nằm ở đầu, mặt, cổ, vết thương ở các vị trí có nhiều dây thần kinh như đầu ngón tay, đầu ngón chân, bộ phận sinh dục, vết thương sâu và nhiều. Những điều cần biết trong cách phòng chống chó dại cắn: - Thường xuyên tiêm ngừa phòng dại cho chó. Khi thấy chó có dấu hiệu bị dại cần đưa đến trạm thú ý để được tiêm phòng và chữa trị. Tránh gây ra những hậu quả đáng tiếc. - Khi nuôi chó cũng cần giữ vệ sinh, tắm rửa cho chó, có chuồng hoặc xích để nhốt chó lại. Khi đưa chó đi dạo hạn chế để chó chạy rông, cần đeo rọ mõm cho chó. - Khi bị chó cắn, cần bĩnh tĩnh tuân thủ thực hiện các bước trên. Đặc biệt không dùng các loại thuốc nam, hoặc các thuốc không rõ nguồn gốc, tác dụng đắp lên vết cắn. - Đối với gia đình có trẻ nhỏ, cha mẹ cần để mắt trông chừng trẻ, nhất là những bé ở độ tuổi chập chững biết đi. Không để trẻ đùa giỡn, kéo đuôi chó mèo. Đối với trẻ lớn, nên giáo dục trẻ biết cách tự bảo vệ bản thân, không đến gần súc vật lạ, không chọc phá súc vật nhất là khi chúng đang ăn hoặc đang ngủ. Cần tiêm phòng bệnh dại cho những vật nuôi thường tiếp xúc với trẻ như chó, mèo. Phạm Lan Anh - Tổ Công tác xã hội

Phòng ngừa bệnh thủy đậu

Chỉ trong tháng 3/2017, khoa Truyền nhiễm - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn đã tiếp nhận 25 trường hợp bệnh nhân mắc bệnh thủy đậu. Đây là bệnh thường gặp trong thời điểm giao mùa xuân sang hè. Bệnh thủy đậu do một loại siêu vi rut gây nên, là một bệnh rất dễ lây truyền.  Khi 1 người mang siêu vi rut thủy đậu nói, hắt hơi , ho... thì các siêu vi rut đó theo nước bọt, nước mũi bắn ra ngoài tan thành bụi. Người khác hít phải bụi đó sẽ lây bệnh. Bệnh xảy ra phần nhiều ở trẻ em nhưng cũng không ít người lớn mắc bệnh này. Thông thường, thời gian nung bệnh hoặc ủ bệnh là khoảng 2-3 tuần. Biểu hiện của bệnh: Bệnh thủy đậu thường xuất hiện các triệu chứng: nổi mụn nước, ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 - 24 giờ, sau đó có thể nổi toàn thân. Người bị nhiễm bệnh có thể bị vài mụn nước cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.  Mụn nước có kích thước từ l - 3 mm đường kính, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ. Bên cạnh mụn nước, trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn trường hợp nặng có thể kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 - 10 ngày, điều trị thuỷ đậu chủ yếu là điều trị triệu chứng như chống ngứa, giảm sốt, giảm đau nhức. Nếu không có biến chứng, các nốt sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo. [[{"fid":"353","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"960","width":"719","style":"width: 500px; height: 668px;","class":"media-element file-default"}}]] Chị Nguyễn Thị T  mang thai 9 tháng đang điều trị bệnh thủy đậu tại khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn   Tuy nhiên, nếu bị nhiễm trùng, bệnh thủy đậu sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm. Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng da nơi mụn nước, nặng hơn vi trùng có thể xâm nhập từ mụn nước vào máu gây nhiêm trùng huyết. Các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não... có thể nguy hiểm đến tính mạng, hay để lại di chứng sau này. Đặc biệt, thậm chí sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thuỷ đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt (ngủ đông). Nhiều năm sau đó, có thể là 10, 20, hay 30 năm sau, khi điều kiện thuận sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố khác, siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại và gây ra san thương của bệnh Zona. Phụ nữ mang thai mắc bệnh thủy đậu rất nguy hiểm vì dễ bị biến chứng.   Nếu bị bệnh trong ba tháng đầu của thai kỳ, virus dễ gây sẩy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh... Còn nếu bị trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ sẽ bị lây bệnh, biểu hiện bệnh nặng với mụn nước nổi rất nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi. Phòng ngừa bệnh thủy đậu: Biện pháp tốt nhất là tiêm vaccine. Vaccine chống thuỷ đậu có hiệu quả cao và lâu dài, giúp cơ thể tạo kháng thể chống lại virus thủy đậu. Nếu đã được tiêm chủng ngừa vaccine thủy đậu thì đại đa số từ 80-90% có khả năng phòng bệnh tuyệt đối. Tuy nhiên, cũng còn khoảng 10% còn lại là có thể bị thủy đậu sau khi tiêm chủng nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt đậu, khoảng dưới 50 nốt và thường là không bị biến chứng. Việc tiêm vaccine được áp dụng đối với các đối tượng sau: - Tất cả trẻ em từ 12-18 tháng tuổi được tiêm 1 lần. - Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thuỷ đậu lần nào cũng tiêm 1 lần. - Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu lần nào thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4-8 tuần. Phạm Lan Anh - Tổ Công tác xã hội

Bệnh thiếu máu huyết tán tại khoa Nhi

Được khỏe mạnh, vui chơi, học hành là niềm ao ước của những em bé thiếu máu huyết tán. Cuộc sống của các em giờ đây gắn liền với  những cơn đau, những mũi tiêm, những lần tiếp máu, dịch truyền… Tại phòng bệnh nhân thiếu máu huyết tán ở Khoa Nhi – Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) tỉnh Lạng Sơn, có những em bé gầy yếu, nước da sạm vàng, đầu to, trán dô, sống mũi tẹt… Bác sĩ Ma Văn Minh – trưởng khoa Nhi cho biết đây là dấu hiệu đặc trưng của bệnh nhân mắc bệnh thiếu máu huyết tán (Thalassemia).    [[{"fid":"339","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 197px; height: 350px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Biểu hiện điển hình của bệnh nhân biến chứng do thiếu máu huyết tán   Bệnh huyết tán là bệnh thiếu máu do hồng cầu bị phá vỡ và đời sống hồng cầu bị rút ngắn dưới 120 ngày. Bệnh mang tính di truyền (do bố hoặc mẹ có gen bệnh), có bất thường tại hồng cầu và do tác nhân bên ngoài hồng cầu. Chế độ điều trị bệnh bằng hai phương pháp chính là truyền máu định kỳ trung bình 3- 4 tuần/lần. Sau 10 - 20 lần truyền máu, bệnh nhân sẽ được tiến hành thải sắt. Việc thải sát còn được thực hiện khi nồng độ ferritin (một protein tế bào máu có chứa sắt) trên 1.000 mg/ml. Trong quá trình truyền máu, nếu bệnh nhân không được thải sắt sẽ dẫn đến ứ đọng sắt tại các cơ quan gây suy tim, xơ gan, rối loạn chức năng của các tuyến nội tiết dẫn đến bị tiểu đường, suy giáp, suy giảm hoóc môn sinh dục ảnh hưởng đến chức năng sinh sản... Người mắc bệnh thiếu máu huyết tán có tuổi thọ thấp hơn rất nhiều so với bình thường nếu không được điều trị. Bệnh hay gặp ở các các dân tộc ít người của tỉnh miền núi trong đó có Lạng Sơn. Mỗi tháng có khoảng 50 – 60 ca điều trị tại khoa Nhi, mỗi đợt điều trị 7 – 10 ngày. Căn bệnh này rất cần truyền máu mỗi đợt thiếu máu nặng. Các bé phải truyền từ 2 – 5 đơn vị mỗi đợt điều trị, trường hợp nặng cần truyền đến 10 đơn vị.               [[{"fid":"340","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 225px; height: 300px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]]                   Các bé phải truyền từ 2 – 5 đơn vị mỗi đợt điều trị, mỗi đợt điều trị kéo dài 7 - 10 ngày Một biện pháp được các nước phát triển chữa khỏi bệnh huyết tán là ghép tế bào gốc – ghép tủy. Tuy nhiên ghép tủy có chi phí quá lớn, và rất khó tìm người cho tủy phù hợp,  hơn thế nữa, hiện trẻ huyết tán ở nước ta hầu hết đã biến chứng nên không đủ tiêu chuẩn ghép. Vì thế bệnh viện cũng là ngôi nhà thứ hai của các em, cuộc đời của các em luôn gắn liền với những bịch máu truyền.  [[{"fid":"341","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 350px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Để phòng ngừa bệnh thiếu máu huyết tán, các cặp vợ chồng cần lưu ý: - Trước khi kết hôn các cặp vợ chồng nên khám và tư vấn sức khỏe tiền hôn nhân. - Nếu cả hai người cùng mang một thể bệnh Thalassemia kết hôn với nhau, cần được tư vấn trước khi dự định có thai. - Khi người mẹ mang thai có thể phát hiện được con bị bệnh bằng cách lấy máu của mẹ để làm xét nghiệm xem có bị thiếu máu hồng cầu nhỏ sẽ làm tiếp xét nghiệm tầm soát bệnh của thai nhi. Ở tuần thứ 10 của thai kỳ, chẩn đoán có thể được thực hiện bằng sinh thiết nhau thai, còn từ tuần thứ 11 đến 19 thì chẩn đoán dựa trên chọc hút xét nghiệm tế bào nước ối. Còn từ tuần thứ 20 trở đi thì dựa trên xét nghiệm tế bào máu cuống rốn./. Phạm Lan Anh - Tổ Công tác xã hội

Tăng cân khi mang thai thế nào là hợp lý?

Trong quá trình mang thai, nhiều bà bầu hào hứng khoe mức tăng cân của mình và coi đó là một dấu hiệu tốt lành cho một đứa trẻ khỏe mạnh, bụ bẫm. Tuy nhiên tăng cân như thế nào là hợp lý thì không phải mẹ bầu nào cũng biết. Mức tăng cân của bà mẹ khi mang thai liên quan chặt chẽ tới cân nặng của trẻ khi sinh. Mức tăng cân phụ thuộc vào chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của mẹ trước khi có thai. Trong suốt thai kỳ, người mẹ cần tăng 10-12 kg. Trong đó, ba tháng đầu tăng 1 kg, ba tháng giữa tăng 5-6 kg và ba tháng cuối tăng 4-5 kg. Nếu 3 tháng giữa tăng dưới 3 kg và 3 tháng cuối tăng dưới 4 kg thì người mẹ cần ăn uống và bồi dưỡng tăng cường thêm. Tăng cân quá mức cũng không tốt. Nếu trong 3 tháng cuối, mỗi tháng tăng quá 2 kg hay mỗi tuần tăng trên 1 kg thì đó thường là dấu hiệu bệnh lý như phù, cao huyết áp. Bà mẹ cần phải đi khám để có những can thiệp kịp thời. Ngược lại, tăng cân ít sẽ dẫn đến nguy cơ đẻ con nhẹ cân hoặc suy dinh dưỡng bào thai. Nhu cầu năng lượng trong khẩu phần của phụ nữ có thai là 2.550 kcal, nhiều hơn khi không có thai 350 kcal. Tùy theo hoàn cảnh của mỗi gia đình, bà mẹ có thể ăn thêm cơm (chỉ cần ăn thêm 2 bát mỗi ngày là đủ đưa vào cơ thể thêm 300 kcal), hoặc thêm củ khoai, bắp ngô, quả trứng, đậu, vừng, lạc, hoa quả… Nếu có điều kiện, ăn thêm thịt, cá, sữa… [[{"fid":"333","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"348","width":"490","style":"width: 500px; height: 355px;","class":"media-element file-default"}}]] Tăng cân hợp lý theo BMI BMI = Cân nặng (kg)/chiều cao bình phương (m²). - Nhẹ cân: BMI dưới 18,5; mức tăng cân hợp lý khi mang thai là 12-18kg. - Cân nặng bình thường: BMI từ 18,5 đến 24,9; mức tăng cân hợp lý khi mang thai là 11-14kg. - Thừa cân: BMI từ 25 đến 29; mức tăng cân hợp lý từ 8-11kg. - Béo phì: BMI trên 29; mức tăng cân hợp lý khi mang thai là 8kg. Người mẹ mang song thai nên tăng 15-20kg trong suốt thai kỳ. Ước lượng tăng cân của người mẹ Cơ thể mẹ tăng 50% thể tích máu khi mang bầu, tương đương khối lượng máu tăng thêm là 900g. Ngoài ra, cân nặng của mẹ bầu còn có sự góp mặt của các yếu tố thai, rau thai, nước ối, cấc mô mỡ dự trữ ở ngực, bụng và khối lượng cơ tử cung tăng thêm, tổng cộng khoảng 12kg. Theo dõi cân nặng thường xuyên Trong thời gian mang thai cũng như trước đó, bạn phải kiểm tra cân nặng của bạn trên cùng một chiếc cân một tuần một lần, vào buổi sáng sớm lúc còn đói. Nếu bạn là người gầy thì cần tăng 12-18 kg; nếu bạn có cơ thể lý tưởng thì nên tăng 11-14 kg và nếu bạn thừa cân thì chỉ cần 8-11 kg trong cả quá trình mang thai. Chế độ ăn hợp lý Chế độ ăn của bạn phải được cân bằng nhằm cung cấp dinh dưỡng cho bạn và em bé. Ăn đủ protein (thịt, cá, trứng, sữa), dưỡng chất xây dựng các tế bào của cơ thể, lipit (chất béo) tham gia vào việc tạo thành não của trẻ và gluxit (đường và bột) mang lại năng lượng cho bà mẹ. Tăng nguồn cung cấp vitamin A (sữa toàn phần, bơ, lòng đỏ trứng), B (ngũ cốc), và D (sữa, bơ, lòng đỏ trứng, cá), axit folic (rau xanh), sắt (động vật thân mềm, rau xanh), canxi (sữa, rau xanh) và magiê (rau xanh, nước khoáng). Khám thai theo định kỳ để sớm phát hiện những bất thường./. Bác sĩ Như Thùy Vân - Khoa Phụ sản

Những điều cần biết về suy dinh dưỡng thể phù ở trẻ em

Vừa qua, Khoa Nhi – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn tiếp nhận trường hợp bệnh nhân cháu Bế Văn T.(17 tháng tuổi, địa chỉ: Hùng Sơn - Tràng Định). Cháu bé nhập viện trong tình trạng quấy khóc nhiều, phù toàn thân, thở ậm ạch, bụng chướng khiến bé không ngồi được. Cháu bé có cân nặng kém, chỉ nặng 8 kg. Cháu T được chẩn đoán suy dinh dưỡng thể phù. Đây là bệnh lý suy dinh dưỡng nặng và ít gặp, hướng điều trị bệnh khá phức tạp. [[{"fid":"326","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"959","width":"719","style":"width: 500px; height: 667px;","class":"media-element file-default"}}]] Hiện tại, cháu bé đang được điều trị và chăm sóc tại khoa Nhi Qua tìm hiểu, cháu T là con thứ 4 trong gia đình. Khi sinh, bé có cân nặng tốt (3,4 kg), sức khỏe bình thường. Tuy nhiên, do điều kiện gia đình, sinh bé xong, mẹ bé đã phải lao động sớm, ăn uống lại không đầy đủ . Khi bé được 5 tháng tuổi, chị cũng cho bé ăn dặm nhưng chỉ ăn bột gạo, rau xanh chứ không bổ sung chất đạm (thịt, cá, trứng). Dinh dưỡng không đúng và không đảm bảo nên thể trạng của bé rất yếu. Suy dinh dưỡng thể phù là một trong những thể suy dinh dưỡng rất nặng ở trẻ em. Đây cũng là thể suy dinh dưỡng điều trị khó khăn và phức tạp nhất. Trẻ mắc bệnh bề ngoài mặt tròn trịa nhưng chân tay khẳng khiu, da sạm, trương lực cơ yếu. Nguyên nhân mắc bệnh là do khẩu phần ăn của bé không đủ chất đạm, cơ thể chỉ nhận năng lượng từ chất bột đường hay chất béo. [[{"fid":"331","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"846","width":"898","style":"width: 500px; height: 471px;","class":"media-element file-default"}}]] Để phòng tránh suy dinh dưỡng cho trẻ, các bà mẹ cần lưu ý: - Chǎm sóc ǎn uống cho phụ nữ có thai để đạt mức tǎng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván. - Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 4 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng. - Cho trẻ ǎn bổ sung (ǎn sam, dặm) từ tháng thứ 5. Tǎng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng), chất đạm, cho trẻ ǎn nhiều bữa trong ngày. - Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần/năm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ, chǎm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh. - Phấn đấu bữa ǎn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp nǎng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ǎn ngon miệng. - Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ǎn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ǎn không là nguồn gây bệnh. - Khi các mẹ thấy trẻ có biểu hiện: da xanh, biếng ăn,ăn ít, chậm tăng cân, đứng cân hoặc sụt cân, trẻ hay buồn bực, quấy khóc, ít vui chơi, kém linh hoạt. các bắp thịt mềm nhão, chậm phát triển vận động, dễ mắc các bệnh về đường hô hấp,tiêu chảy... cần đưa trẻ đến các cơ sở khám chũa bệnh để điều trị kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra. Phạm Lan Anh - Tổ Công tác xã hội

Trang