CẤP CỨU (24/24):
02053.800.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

3 NGƯỜI TRONG MỘT GIA ĐÌNH BỊ NGỘ ĐỘC DO ĂN NẤM

Ngày 2/8/2018, Khoa Hồi sức Cấp cứu Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lạng Sơn (BVĐK) tiếp nhận 3 trường hợp bệnh nhân trong cùng một gia đình nhập viện do có biểu hiện ngộ độc sau khi ăn nấm. Bệnh nhân Hoàng Thị L 48 tuổi, Vi Thị P 22 tuổi và Vi Văn N 15 tuổi (địa chỉ Xã Xuất Lễ, Huyện Cao Lộc) vào viện với cùng một triệu chứng đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, nôn và đi ngoài. Bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân bị ngộ độc do ăn nấm và xử trí kịp thời. Hiện tại sức khỏe của cả 3 bệnh nhân ổn định. [[{"fid":"1508","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1536","width":"2048","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh nhân Hoàng Thị L và con gái Vi Thị P điều trị tại Khoa Hồi sức cấp cứu BVĐK [[{"fid":"1509","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1536","width":"2048","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh nhân Vi Văn N điều trị tại Khoa hồi sức cấp cứu BVĐK Trước đó, chị L lên rừng phát hiện nhiều nấm và đã hái về ăn. Sau ăn khoảng 10 phút, cả 3 mẹ con chị có biểu hiện trên và được người nhà đưa vào viện. Chị L cho biết cây nấm gia đình chị ăn có màu trắng xám và hình dạng rất giống nấm thường nên chị không nhận biết được là nấm độc. Khoảng 3 tháng trở lại đây, Khoa Hồi sức cấp cứu BVĐK  tiếp nhận 8 trường hợp nhập viện do ngộ độc nấm. Do đang vào mùa mưa, các loại nấm phát triển mạnh, nên một số người dân hái về sử dụng, làm tăng nguy cơ ngộ độc. Thông thường, nấm độc có màu sắc sặc sỡ và có đốm màu trắng, đen, đỏ nổi trên mũ nấm. Nấm độc có mùi thơm, khi ngắt sẽ có nhựa chảy ra. Những loại nấm có phần gốc phình to giống củ hầu hết là nấm độc. Một số loại nấm độc có màu sắc và hình dạng giống với nấm thường nên rất dễ gây nhầm lẫn. Khi có biểu hiện ngộ độc nấm, cần nhanh chóng gây nôn, càng sớm càng tốt. Người bệnh cần uống nhiều nước, tốt nhất là dùng oresol. Cần nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất. Chú ý đưa cả những người cùng ăn nấm đến cơ sở y tế dù chưa có biểu hiện ngộ độc. Để phòng ngừa ngộ độc nấm, tuyệt đối không được ăn nấm lạ, nấm hoang dại, kể cả các loại nấm có màu sắc và hình dáng giống với nấm thường. Chỉ sử dụng các loại nấm biết rõ nguồn gốc và biết chắc chắn đó là loại ăn được. Các loại nấm ăn được nên chế biến khi còn tươi, nếu để ôi thiu, dập nát có thể hình thành độc tố mới gây ngộ độc.

XUẤT HIỆN TRƯỜNG HỢP UỐN VÁN SƠ SINH DO TỰ ĐỠ ĐẺ TẠI NHÀ

Ngày 17/7/2018, khoa Nhi - Bệnh viện Đa khoa Lạng Sơn (BVĐK) tiếp nhận bé sơ sinh 6 ngày tuổi được chuyển đến từ Trung tâm y tế huyện Đình Lập do bị nhiễm trùng uốn ván rốn. Đây là trường hợp sơ sinh nhiễm trùng uốn ván mới xuất hiện trở lại tại BVĐK sau gần 20 năm. Bé Phún Văn L (Khe Luồng, Kiên Mộc, Đình Lập) là con thứ 4 trong gia đình dân tộc Dao, nhập viện trong tình trạng sốt, co giật toàn thân, môi tím, cứng hàm. Mẹ của bé trong các lần mang thai không tiêm phòng uốn ván và đều tự sinh tại nhà, không đến cơ sở y tế. Lần này, sau khi sinh bé L, người nhà tự cắt cuống rốn bằng kéo chưa được vô khuẩn. Bé được chẩn đoán nhiễm trùng uốn ván rốn. [[{"fid":"1485","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"height":"352","width":"480","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Bé Phún Văn L đang điều trị tại Khoa Nhi BVĐK Uốn ván sơ sinh (dân gian gọi là sài uốn ván) là một bệnh nguy hiểm, gây tử vong cao. Bệnh do trực khuẩn uốn ván gây ra. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do dụng cụ cắt cuống rốn không đảm bảo vô khuẩn, nhất là những trẻ được đỡ đẻ tại nhà, làm cho vi khuẩn uốn ván xâm nhập vào cơ thể. Một số trường hợp, việc chăm sóc cuống rốn cho trẻ sau khi sinh không đảm bảo vệ sinh, dẫn tới bị bệnh. Giai đoạn đầu của bệnh, trẻ khóc nhiều, sau đó xuất hiện dấu hiệu chum môi, không bú được, co giật. Với bất cứ kích thích nhẹ nào, như âm thanh, ánh sáng đều lên cơn co giật, cơn co giật mạnh liên tục sẽ kèm theo những cơn ngừng thở, có thể đe dọa đến tính mạng trẻ. Tỷ lệ trẻ tử vong do uốn ván sơ sinh khá cao (34-50%). Một số trường hợp mặc dù được điều trị qua khỏi nhưng để lại những di chứng nặng nề như động kinh, kém phát triển tinh thần, trí tuệ, vận động… Trước đó, BVĐK đã chữa trị thành công cho một số trường hợp trẻ bị nhiễm uốn ván sơ sinh. Trong những năm gần đây, Bệnh viện chưa gặp thêm trường hợp uốn ván sơ sinh nào nhập viện. Để phòng bệnh uốn ván sơ sinh, phụ nữ mang thai cần lưu ý, tiêm đủ 2 mũi vắc xin phòng uốn ván vào 2 tháng cuối thai kì. Khi có dấu hiệu sinh, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn sinh và chăm sóc trẻ đúng cách.

LỢI ÍCH CỦA VIỆC XÉTNGHIỆM HIV KHI MANG THAI

Xét nghiệm HIV rất quan trọng khi mang thai, giúp phát hiện sớm tình trạng có HIV ở thai phụ để từ đó có phương án điều trị dự phòng lây nhiễm từ mẹ sang con kịp thời. Đồng thời còn giúp người mẹ sớm được bảo vệ sức khỏe phù hợp. Phụ nữ có HIV mang thai được điều trị dự phòng lây truyền mẹ - con thì nguy cơ lây nhiễm cho trẻ chỉ còn 2%. Ngược lại, nếu không điều trị dự phòng, khả năng lây truyền là từ 30 – 50%. Phát hiện HIV càng sớm và thực hiện can thiệp dự phòng lây truyền mẹ con ngay từ đầu thai kỳ sẽ làm tăng hiệu quả điều trị. [[{"fid":"1435","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 353px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Tại Bệnh viện Đa khoa Lạng Sơn (BVĐK), công tác tư vấn xét nghiệm HIV cho thai phụ luôn được chú trọng. Từ đầu năm đến nay, BVĐK đã khám và tư vấn xét nghiệm cho hơn 2000 phụ nữ sinh con tại Bệnh viện, phát hiện 4 trường hợp dương tính với HIV. Các trường hợp này đều được dùng thuốc dự phòng lây truyền từ mẹ sang con, cả 4 trẻ sinh ra từ người mẹ bị nhiễm HIV đều khỏe mạnh. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ mang thai tự nguyện xét nghiệm HIV còn thấp, đa số thai phụ đến khám và sinh con tại Bệnh viện chỉ xét nghiệm trước quá trình chuyển dạ theo yêu cầu của bác sỹ. Do hiểu biết còn hạn chế và tâm lý e dè, lo sợ nên vẫn còn có trường hợp thai phụ sau khi được bác sỹ tư vấn nhưng không đồng ý xét nghiệm hoặc có thai phụ đã biết có HIV ở lần mang thai trước nhưng không đồng ý điều trị dự phòng, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV cho trẻ. Hiện nay, tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con tại Lạng Sơn đang được khống chế ở mức 2,6% tổng số ca sinh. Nếu thai phụ được xét nghiệm sớm và điều trị dự phòng đúng thì tỷ lệ lây truyền sẽ giảm xuống dưới 2%, thậm chí là 0%. Vì vậy, để bảo vệ thế hệ tương lai khỏi căn bệnh thế kỷ, mỗi người dân, đặc biệt là chị em phụ nữ mang thai, cần nâng cao nhận thức hơn nữa về HIV/AIDS; mỗi cặp vợ chồng khi có kế hoạch sinh con cần tự nguyện thực hiện xét nghiệm HIV càng sớm càng tốt, nhất là phụ nữ mang thai cần làm xét nghiệm ngay từ những tuần đầu của thai kỳ.

BỆNH NHÂN NHẬP VIỆN DO ONG ĐỐT GIA TĂNG

Ngày 24/6/2018 Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Đa khoa Lạng Sơn (BVĐK) tiếp nhận trường hợp bệnh nhân Triệu Văn T (Yên Phúc, Văn Quan) nhập viện do bị nhiều vết ong đốt gây bất tỉnh. [[{"fid":"1423","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"960","width":"1280","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh nhân Triệu Văn T đang điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu BVĐK Trước đó, bệnh nhân đi rừng bắt ong và bị ong đốt nhiều vào vùng đầu, mặt, cổ. Bệnh nhân được chẩn đoán ngộ độc nọc ong vò vẽ dẫn đến suy gan và suy thận. Thời gian gần đây, số người bị ong rừng đốt trên địa bàn tỉnh có chiều hướng gia tăng. Riêng trong tháng 6/2018, Khoa Hồi sức Cấp cứu BVĐK đã tiếp nhận 10 trường hợp nhập viện do bị ong đốt. Nguyên nhân chủ yếu là do bà con bất cẩn khi đi rừng hoặc bắt ong để lấy mật. Bệnh nhân bị ong có biểu hiện đau rát, sưng tấy ở vùng bị đốt và tức ngực, khó thở. Trường hợp nặng, có thể dẫn tới suy hô hấp, trụy tim mạch, suy đa tạng; nguy cơ tử vong. Khi bị ong đốt, cần lưu ý sơ cứu kịp thời: - Nhanh chóng đưa người bị nạn ra khỏi khu vực có ong, đặt người bị ong đốt nằm yên tại chỗ, tránh cử động nhiều để hạn chế nọc độc lan truyền nhanh trong cơ thể. - Khều nhẹ hoặc dùng nhíp lấy ngòi chích của ong ra. Tuyệt đối không dùng tay nặn ép  lấy ngòi vì có thể làm cho nọc độc lan ra và thấm sâu hơn vào cơ thể. - Chườm lạnh lên vết đốt để giảm đau và giảm sưng, uống nhiều nước để loại thải các độc tố. - Đưa người bị đốt tới cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời. Mùa hè là thời điểm tai nạn do ong đốt gia tăng. Vì vậy, người dân cần lưu ý: - Tránh tiếp xúc với ong, không kích động hoặc chọc phá tổ ong. Khi ong bay đến, không chạy, nên đứng hoặc ngồi im không cử động. - Thường xuyên vệ sinh, phát quang bụi rậm quanh nhà. Khi ong vào nhà làm tổ cần phát hiện sớm tổ ong và phá bỏ nếu ở nơi đông người, nơi nhiều người đi lại hoặc trong hộ gia đình. Nên phá ngay khi tổ mới xây (thường tháng 3-4). - Khi đi vào rừng, đi dã ngoại cần tránh mặc quần áo sặc sỡ. Không dùng nước hoa, dầu gội đầu, mỹ phẩm… có mùi thơm và ngọt. Không đi chân đất, không mặc quần áo quá rộng. Nên đội mũ có lưới che, đi găng tay, mặc quần áo dày và kín. - Để loại bỏ tổ ong nên dùng khói, bình xịt côn trùng xua ong đi hết sau đó dùng lưới mắt nhỏ hoặc màn bọc tổ ong gỡ đi. Người thực hiện cần mặc quần áo dày, áo mưa (loại nhựa dày), đi găng và đầu đội mũ kín.

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ BỆNH CÚM A/H1N1

Cúm A/H1N1 là bệnh viêm nhiễm hô hấp cấp tính do vi rút cúm A/H1N1 gây nên. Vi rút này có khả năng tấn công vào tế bào phổi, gây viêm phổi và thậm chí tử vong nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách. [[{"fid":"1419","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"194","width":"259","style":"width: 500px; height: 375px;","class":"media-element file-default"}}]] Vi rút cúm A/H1N1 tồn tại khá lâu ngoài môi trường, có thể sống từ 24 đến 48 giờ trên các bề mặt như bàn, ghế, tủ, tay vịn cầu thang...; tồn tại trong quần áo từ 8 đến 12 giờ và duy trì được 5 phút trong lòng bàn tay. Loại vi rút này có thể sống được đến 4 ngày trong môi trường nước ở nhiệt độ 22 độ C và sống đến 30 ngày ở nhiệt độ 0 độ C. Cúm A/H1N1 lây truyền từ người sang người theo đường hô hấp, qua các giọt bắn (nước bọt, dịch tiết mũi họng,…) khi người bệnh ho, hắt hơi; hoặc lây qua tiếp xúc với một số đồ vật mang vi rút rồi qua bàn tay vào mắt, mũi, miệng. Người mang vi rút cúm A/H1N1 có khả năng truyền vi rút cho những người xung quanh trong thời gian 3 - 5 ngày trước tới 7 ngày sau, kể từ khi có triệu chứng của bệnh. Bệnh lây lan nhanh khi có sự tiếp xúc trực tiếp với người mắc bệnh, đặc biệt ở nơi tập trung đông người như trường học, nhà trẻ,... Biểu hiện của bệnh cúm A/H1N1 giống như nhiều bệnh cúm khác: sốt trên 38 độ C, ho, đau họng, sổ mũi, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi. Một số trường hợp nặng có thể khó thở và dẫn đến tử vong. Bệnh cúm A/H1N1 chỉ có thể chẩn đoán xác định bằng cách lấy dịch mũi họng để xét nghiệm. [[{"fid":"1420","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"400","width":"800","style":"width: 500px; height: 250px;","class":"media-element file-default"}}]] Bệnh cúm A/H1N1 được phòng bằng cách: Tăng cường vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, súc miệng và họng bằng nước muối loãng, che miệng (bằng mặt trước khuỷu tay) và mũi khi ho, hắt hơi. Vệ sinh sạch sẽ nơi ở, làm thông thoáng mát nơi ở, lớp học, phòng làm việc; lau chùi bề mặt, vật dụng bằng hoá chất sát khuẩn thông thường. Mỗi người nên tự theo dõi sức khỏe hàng ngày, nếu có biểu hiện sốt, ho, đau họng,… cần đến cơ sở y tế gần nhất để khám và điều trị sớm; nếu được xác định mắc cúm thì cần cách ly ngay. Nên hạn chế tiếp xúc với người mắc hoặc nghi mắc bệnh cúm, cần đeo khẩu trang y tế và giữ khoảng cách trên 1 mét nếu phải tiếp xúc với người bệnh. Không tự ý sử dụng thuốc đặc biệt là thuốc kháng vi rút như Tamiflu mà phải tuân theo hướng dẫn của bác sỹ.                                                                                                                                                                 (Sưu tầm)

ĐỀ PHÒNG NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM TRONG MÙA HÈ

Mùa hè, thời tiết nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển và đẩy nhanh quá trình biến tính thực phẩm; từ đó làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm. Ngộ độc thực phẩm nếu không được xử trí kịp thời thậm chí có thể tử vong. Nguyên nhân ngộ độc thực phẩm Nguy cơ gây ngộ độc có thể đến từ việc các nhà hàng, quán ăn sử dụng nguyên liệu thực phẩm không đảm bảo vệ sinh, không rõ nguồn gốc. Người chế biến thức ăn thiếu kiến thức và thiếu trách nhiệm trong việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn đường phố nếu không có tủ kính che đậy cẩn thận thì khả năng nhiễm bụi, côn trùng truyền bệnh là điều khó tránh khỏi. [[{"fid":"1394","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Thực phẩm chứa nhiều đạm cần được bảo quản và chế biến đúng cách Trong mùa hè, thực phẩm, nhất là loại có nhiều đạm (nguồn gốc động vật: thịt, thủy hải sản, sữa, trứng...) nếu không được bảo quản và chế biến đúng cách sẽ có nguy cơ gây ngộ độc rất cao do nhiệt độ cao là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật (vi khuẩn, nấm) phát triển. Nhiệt độ cao cũng làm thực phẩm bị phân hủy nhanh hơn. Các quá trình này đều sinh ra các độc tố với lượng rất lớn. Nhiều độc tố có khả năng chịu nhiệt cao nên nấu chín cũng không có tác dụng và vẫn có khả năng gây bệnh. Cách phòng tránh ngộ độc thực phẩm Thời tiết nóng bức, thực phẩm rất dễ bị hỏng, vì vậy nên chọn các loại thực phẩm tươi và sử dụng trong ngày, không nên dự trữ quá nhiều thực phẩm trong tủ lạnh, không để lẫn thực phẩm sống với thức ăn chín. [[{"fid":"1395","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 396px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Rửa sạch rau quả trước khi chế biến Các loại thực phẩm sống như thủy hải sản, thịt, phủ tạng động vật hay rau quả,… cần làm sạch, cho vào hộp đậy kín và để ngăn riêng trong tủ lạnh. Lưu ý chế biến ở nhiệt độ cao để đảm bảo thực phẩm chín đều. Tránh sử dụng thực phẩm chưa chín kỹ. Thức ăn bày bán cần che đậy kĩ hoặc đặt trong tủ kính để tránh khói bụi và các loại côn trùng, vi khuẩn. Không sử dụng các nguyên liệu thực phẩm đã bị ôi thiu, hỏng, mốc, không rõ nguồn gốc, quá hạn sử dụng để chế biến, kinh doanh. Thực hiện ăn chín uống sôi, rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, sau khi giết mổ, chế biến thịt gia cầm; tiệt trùng các dụng cụ, bát đũa trước khi ăn uống. Mùa hè thường sử dụng đá để làm mát đồ uống nên cần lưu ý sử dụng nguồn nước sạch và đun sôi nước trước khi làm đá . Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ tủ lạnh và khu vực bếp nấu ăn để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

TIÊU CHẢY – TÁC DỤNG PHỤ KHI DÙNG KHÁNG SINH

Kháng sinh là loại thuốc đặc hiệu trong điều trị nhiễm khuẩn. Giống như những loại thuốc khác, kháng sinh cũng có các tác dụng phụ không mong muốn, thậm chí hay gặp hơn. Một trong những tác dụng phụ hay gặp nhất là tiêu chảy, chiếm tới gần 20% số người đang phải dùng kháng sinh để điều trị. [[{"fid":"1349","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 280px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Nguyên nhân tiêu chảy khi dùng kháng sinh Hệ vi khuẩn đường ruột duy trì cân bằng với số lượng vi khuẩn có lợi chiếm ưu thế. Lợi khuẩn đóng vai trò kìm hãm các vi khuẩn gây bệnh trong đường ruột. Việc sử dụng kháng sinh sẽ ức chế hoặc thậm chí tiêu diệt các lợi khuẩn trong khi tiêu diệt loại gây bệnh. Vi khuẩn kỵ khí clostridium difficile là thủ phạm chính gây nên phần lớn các trường hợp tiêu chảy do dùng kháng sinh. Ngoài ra còn do cơ thể người mẫn cảm với kháng sinh. Biểu hiện và nguy cơ của tiêu chảy do kháng sinh Tiêu chảy xảy ra trong hoặc sau khi dùng kháng sinh, có các triệu chứng thay đổi từ nhẹ tới nặng như: sôi bụng, đau bụng, bụng trướng nhẹ, tiêu chảy nhiều lần, phân lỏng. Nghiêm trọng hơn, có thể có các triệu chứng của viêm đại tràng hoặc viêm đại tràng giả mạc như: sốt cao, tiêu chảy nhiều lần, phân lỏng có máu, đau quặn bụng, buồn nôn và nôn. Tiêu chảy kéo dài gây mất nước nặng, rối loạn điện giải. Một số trường hợp gây viêm loét, thủng ruột, phình đại tràng, nhiễm khuẩn, nhiễm độc cơ thể. [[{"fid":"1353","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 321px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Xử trí khi bị tiêu chảy do dùng kháng sinh Trường hợp bị tiêu chảy nhẹ, các triệu chứng sẽ hết trong vài ngày tới 2 tuần sau khi dừng sử dụng kháng sinh. Trường hợp tiêu chảy nặng, cần phải dừng ngay loại kháng sinh có liên quan đến tiêu chảy. Khẩn trương bù nước và điện giải. Thay đổi chế độ ăn, chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày, nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa. Tránh ăn nhiều chất xơ và các chất lên men mạnh, các gia vị gây kích thích đường tiêu hóa như ớt, hạt tiêu... Uống nhiều nước. Tránh đồ uống có gas, nước ép cam quýt, rượu, cà phê vì có thể làm cho triệu chứng nặng hơn. Điều quan trọng nhất là phải đến bác sĩ để được sử trí đúng cách sau khi các cách đơn giản nêu trên không hiệu quả. Chỉ dùng kháng sinh khi thật cần thiết và có chỉ định của thầy thuốc. Dùng thuốc theo đơn, không tăng liều hoặc dùng thuốc lâu hơn đơn bác sĩ kê. Không tự ý dùng thuốc chống tiêu chảy. Các thuốc này có thể cản trở khả năng loại bỏ độc tố của cơ thể và gây biến chứng. Sau khi khỏi bệnh, nên tránh dùng loại kháng sinh đã gây tiêu chảy trước đó.

CÁCH XỬ TRÍ ĐUỐI NƯỚC

Dịp hè, trẻ được nghỉ học, thường tự do chơi đùa ở những nơi có nguy cơ đuối nước, dẫn đến tình trạng đuối nước gia tăng, nhiều trường hợp trẻ em bị đuối nước khi tắm tại các bể bơi, sông, hồ…được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Lạng Sơn. Trong số đó có trường hợp đã tử vong trước khi được đưa vào viện. Khi gặp tai nạn đuối nước, nếu không biết cách sơ cứu ban đầu, nguy cơ tử vong là rất cao. [[{"fid":"1322","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"400","width":"600","style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"}}]] Dạy trẻ học bơi để tránh các tình huống nguy hiểm Phòng tránh đuối nước cho trẻ: Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi người trong xã hội, nhất là các bậc cha mẹ trong việc phòng tránh đuối nước cho trẻ em. Đảm bảo môi trường sống an toàn cho trẻ: Làm tường rào, nắp đậy chắc chắn cho giếng nước, bể chứa nước hoặc các dụng cụ chứa nước số lượng lớn trong gia đình. Trẻ nhỏ cần được chăm sóc và giám sát chặt chẽ, nhất là khi đi chơi gần những nơi có sông, suối, ao, hồ; hoặc đi bơi ở bể bơi, suối, sông, biển,… Cần cho trẻ em học bơi và tránh các tình huống nguy hiểm có thể gặp khi tiếp xúc với nước; giải thích cho trẻ hiểu sự nguy hiểm khi tự ý tập bơi hay tắm sông, suối mà không có sự giám sát của người lớn. Mọi người cần chủ động trang bị kiến thức, kỹ thuật sơ cứu đuối nước đúng cách để áp dụng khi cần . Sơ cứu khi bị đuối nước: Nhanh chóng đưa nạn nhân lên khỏi mặt nước bằng cách đưa cây sào dài cho nạn nhân nắm, ném phao (không nhảy xuống nước nếu không biết bơi) hoặc vớt người bị nạn lên. Người cứu tiến lại nạn nhân từ phía lưng, ôm lấy lưng nạn nhân hoặc nắm tóc kéo lên. Tránh tình trạng nạn nhân còn tỉnh sẽ hoảng loạn, ôm ghì lấy người cứu dẫn đến hậu quả cả hai cùng bị chết đuối. Đặt người bị nạn nằm ở chỗ khô ráo, thoáng khí và nhanh chóng tiến hành khai thông đường thở, thổi ngạt cho nạn nhân. Quay nghiêng đầu nạn nhân sang một bên, ngón tay trỏ luồn vào miệng nạn nhân móc hết dị vật và cho nước trong miệng nạn nhân chảy ra ngoài. Nếu người bị nạn ngừng thở, cần kết hợp hô hấp nhân tạo kết hợp với ép tim ngoài lồng ngực ngay: Dùng 2 ngón tay cái (đối với trẻ dưới 1 tuổi) ấn vào vị trí 1/3 dưới xương ức. Phải kết hợp cả ép tim với thổi ngạt, cứ ba lần ép tim thổi ngạt một lần. Dùng 1 bàn tay (đối với trẻ từ 1-8 tuổi) hoặc 2 bàn tay đặt chồng lên nhau (đối với trẻ hơn 8 tuổi và người lớn) ấn vào vị trí nửa dưới xương ức, cứ 15 lần ép tim lại thổi ngạt hai lần. Cần nhanh chóng đưa người bị nạn đến cơ sở y tế gần nhất. Khi vận chuyển cần tiếp tục thực hiện các động tác cấp cứu.

Trang