CẤP CỨU (24/24):
02053.800.115

ĐIỆN THOẠI HỖ TRỢ :02053.870.039

Y học thưởng thức

CÚM MÙA GIA TĂNG, BỘ Y TẾ KHUYẾN CÁO 5 BƯỚC PHÒNG BỆNH

Trước tình hình bệnh cúm mùa có xu hướng gia tăng tại một số bệnh viện, Bộ Y tế đã đưa khuyến cáo phòng bệnh cho cộng đồng. Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, bệnh cúm mùa là bệnh truyền nhiễm cấp tính với biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, sổ mũi, đau họng và ho. Tác nhân gây bệnh chủ yếu do các chủng vi rút cúm A(H3N2), cúm A(H1N1), cúm B và cúm C. Bệnh có khả năng lây nhiễm rất cao, qua đường hô hấp, qua các giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng do hắt hơi, ho khạc. Thông thường bệnh diễn biến nhẹ và hồi phục trong vòng 2-7 ngày, nhưng đối với trẻ em, người lớn tuổi, người có bệnh mãn tính về tim phổi, thận, bệnh chuyển hóa, thiếu máu hoặc suy giảm miễn dịch..., bệnh có thể diễn biến nặng hơn, dễ bị biến chứng và có thể dẫn đến tử vong. Bệnh lưu hành tại nhiều nước trên thế giới, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng 5-10% người lớn trưởng thành và khoảng 20-30% trẻ em bị nhiễm bệnh, trong đó có 3 triệu đến 5 triệu trường hợp có diễn biến nặng và khoảng 250 đến 500 nghìn người tử vong. Tại Việt Nam, trong 10 năm gần đây hàng năm ghi nhận khoảng từ 1 triệu đến 1,8 triệu trường hợp mắc hội chứng cúm, nguyên nhân chủ yếu do các chủng vi rút cúm A(H3N2), cúm A(H1N1) và cúm B gây nên. Các trường hợp mắc bệnh có xu hướng gia tăng vào mùa đông và mùa xuân. Để chủ động giám sát sự lưu hành và biến đổi của các chủng vi rút cúm ở nước ta, Bộ Y tế đã triển khai hệ thống giám sát cúm trọng điểm quốc gia từ năm 2006, giám sát nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính nặng từ đầu năm 2016 và đẩy mạnh hoạt động xét nghiệm chẩn đoán tác nhân gây bệnh cúm tại Trung tâm cúm quốc gia tại Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, đến nay các đơn vị này đều có khả năng xét nghiệm các chủng vi rút cúm. [[{"fid":"1834","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"1400","width":"2100","style":"width: 500px; height: 333px;","class":"media-element file-default"}}]] Để chủ động phòng chống cúm mùa, Bộ Y tế khuyến cáo người dân thực hiện tốt các nội dung sau: 1. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, che miệng khi hắt hơi, thường xuyên rửa tay với xà phòng, vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối. 2. Giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất để nâng cao thể trạng. 3. Tiêm vắc xin cúm mùa phòng bệnh. 4. Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân cúm hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh khi không cần thiết. 5. Khi có triệu chứng ho, sốt, sổ mũi, đau đầu, mệt mỏi cần đến ngay cơ sở y tế để được khám, xử trí kịp thời.   Theo Sức khỏe và đời sống

CÁCH PHÁT HIỆN VÀ CHĂM SÓC TẠI NHÀ CHO NGƯỜI MẮC SỞI

Hiện nay thời tiết thuận lợi khiến cho tình hình bệnh sởi gia tăng và đang diễn biến rất phức tạp. Do đó, các phụ huynh cần có những hiểu rõ về căn bệnh này. Sởi là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus gây ra. Bệnh lây từ người sang người qua đường hô hấp. Bệnh có biểu hiện sốt, viêm long đường hô hấp, đường tiêu hóa và kết mạc mắt kèm nổi ban đặc trưng. Sau khi mắc sởi, đáp ứng miễn dịch của cơ thể giảm sút nên trẻ dễ mắc các biến chứng. Bệnh sởi có diễn biến nhanh và nặng? Bệnh sởi thường hay xảy ra vào mùa đông xuân. Tuy nhiên trong vài năm gần đây, bệnh sởi xảy ra quanh năm. Bệnh lây truyền qua đường hô hấp, do dịch tiết mũi họng của người nhiễm bệnh theo không khí thoát ra khi người bệnh ho hoặc hắt hơi, nói chuyện… Bệnh dễ lây lan ở những khu vực đông người như: nhà trẻ, trường học, khu đông dân cư… Chính vì vậy bệnh dễ mắc thành dịch. Bệnh sởi thường gặp ở trẻ nhỏ, người có miễn dịch kém, dễ dẫn đến biến chứng như viêm phổi, viêm não, viêm tai giữa, tiêu chảy… có thể gây nên tử vong. Hiện nay bệnh vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu ở trẻ em. Cách chữa chủ yếu là cải thiện triệu chứng, vệ sinh cá nhân và chế độ ăn. [[{"fid":"1829","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"636","width":"900","style":"width: 500px; height: 353px;","class":"media-element file-default"}}]] Các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh sởi – Trẻ nhiễm bệnh sởi có thời gian ủ bệnh từ 7- 21 ngày, sau đó có thể có đầy đủ các triệu chứng như sau: + Sốt cao > 39°C. + Viêm long đường hô hấp trên, chảy nước mũi, ho khan kéo dài, khàn tiếng, có hạt Koplik trong miệng + Chảy nước mắt, mũi, ho, viêm màng tiếp hợp, mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mí mắt. + Ban mọc theo thứ tự bắt đầu ngày thứ nhất từ đầu, mặt, cổ, ngày thứ 2 ngực lưng cánh tay, ngày thứ 3 bụng, mông, đùi, chân, khi ban mọc tới chân hết sốt và ban bắt đầu bay. Chăm sóc và theo dõi trẻ bị bệnh tại nhà. Đối với bệnh sởi, nếu đủ điều kiện chăm sóc và cách ly, có thể chăm sóc và điều trị tại nhà cho trẻ. – Cách ly trẻ bệnh với trẻ lành. – Cho trẻ uống thuốc hạ sốt khi sốt ≥ 38.5°C theo chỉ định của bác sĩ. – Người chăm sóc cần đeo khẩu trang, rửa tay sạch trước và sau mỗi lần tiếp xúc với trẻ bị bệnh. – Vệ sinh thân thể như tắm hàng ngày, tránh để lạnh. Thay quần áo, vệ sinh môi trường xung quanh, giữ gìn phòng thông thoáng sạch sẽ. – Cắt móng tay tránh gãi làm xước da. – Nhỏ mắt bằng nước muối 0,9% ngày 3 lần. – Tránh quan niệm cho bệnh nhân kiêng tắm, kiêng gió sẽ làm cho bệnh thêm trầm trọng hơn. – Trẻ còn bú mẹ vẫn tiếp tục cho bú và kết hợp chế độ ăn bổ sung hợp lý (nếu trẻ ≥ 6 tháng) – Cách chế biến thức ăn: mềm dễ tiêu, nấu chín kỹ và khi ăn nên chia thành nhiều bữa. Tốt nhất nên chế biên theo khẩu vị người bệnh. Lưu ý: Không kiêng khem trong chế độ ăn, để bù kịp thời các chất dinh dưỡng mất do quá trình nhiễm trùng. Không dùng các loại gia vị gây khó tiêu. Trong trường hợp trẻ bị biến chứng tiêu chảy hoặc viêm phổi, cần bổ sung kẽm bằng đường uống. Trẻ lớn đảm bảo ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, uống nhiều nước, nước ép hoa quả chứa nhiều Vitamin A. – Bổ sung Vitamin A để dự phòng thiếu vitamin này, giúp bảo vệ mắt. Khi nào cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế? Cần đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất khi có các dấu hiệu sau: – Trẻ sốt cao liên tục ≥ 39°C- 40°C. – Khó thở, thở nhanh. – Mệt mỏi, không ăn uống gì, không chơi, lơ mơ… – Phát ban toàn thân mà vẫn sốt. Để phòng bệnh: cần cho trẻ tiêm vacxin vì tiêm vacxin là biện pháp phòng sởi an toàn nhất. Tiêm vacxin phòng bệnh sởi mũi đầu khi trẻ được 9 tháng, mũi 2 khi trẻ được 18 tháng. Tiêm phòng muộn không ảnh hưởng đến khả năng miễn dịch. Trường hợp đã tiếp xúc với nguồn lây có thể dùng globulin miễn dịch có thể phòng ngừa hoặc làm giảm mức độ nặng của bệnh. Ngoài ra,  cần vệ sinh cá nhân và môi trường. Khi phát hiện trẻ mắc bệnh cần cách ly trẻ bệnh với trẻ lành. Đảm bảo tắm rửa sạch sẽ cho trẻ hàng ngày, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng sát khuẩn. Đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh hay nghi ngờ bệnh sởi. Tránh tối đa việc dụi mắt, mũi. Vệ sinh đường mũi, mắt hàng ngày. Lau nhà, bàn, ghế, cầu thang đồ chơi nơi khu vực vệ sinh chung bằng xà phòng hoặc chất tẩy rửa thông thường.   Theo Sức khỏe và đời sống  

CẢNH GIÁC VỚI BỆNH CÚM KHI CHUYỂN MÙA

Thời tiết chuyển mùa, bệnh cúm đã bắt đầu xuất hiện, mọi người cần cảnh giác cao với căn bệnh này vì có thể gây thành dịch, làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và nguy hiểm hơn là bệnh có thể gây tử vong. Thời tiết chuyển mùa, bệnh cúm đã bắt đầu xuất hiện, mọi người cần cảnh giác cao với căn bệnh này vì có thể gây thành dịch, làm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và nguy hiểm hơn là bệnh có thể gây tử vong. Trong bối cảnh thời tiết thay đổi do chuyển mùa từ thu sang đông sẽ có rất nhiều bệnh truyền nhiễm có nguy cơ gia tăng (cả số mắc và cả có nguy cơ bùng phát dịch). Đặc biệt, có những bệnh tưởng như bệnh thông thường, rất dễ mắc khi thay đổi thời tiết, nhưng chủ quan có thể gây tử vong. Vì vậy, khi thời tiết thay đổi thường xuất hiện những bệnh viêm đường hô hấp, trong đó bệnh cảm lạnh và cúm là rất dễ xảy ra, bởi vì với thời tiết này các loại vi sinh vật gây bệnh rất thuận lợi để phát triển, đặc biệt là các loại virut cúm. Đồng thời ở nước ta đang có mầm bệnh cúm, nhất là loại cúm A/H1N1 (cúm thường). Bệnh cúm lây lan thế nào? Bệnh cúm là một căn bệnh truyền nhiễm thuộc đường hô hấp, nhất là đường hô hấp trên (mũi, họng hầu, thanh quản), virut làm tổn thương niêm mạc của miệng, mũi, họng hầu, thanh quản và có thể lan xuống đường hô hấp dưới (khí quản, phế quản, tiểu phế quản...). Thường có 3 loại virut gây ra bệnh cúm, đó là virut cúm A, cúm B và cúm C. Các bệnh cúm do virut gây ra lây lan chủ yếu bằng không khí, trong đó có các hạt nước bọt nhỏ li ti do người bệnh ho, nói bắn ra và không khí có chứa virut cúm gây bệnh. Khi người lành hít phải các loại không khí này sẽ mắc bệnh cúm. Trong khí đó, bệnh cảm lạnh có một số triệu chứng tương tự như bệnh cúm nhưng nhẹ hơn. Cảm lạnh thường do một số virut đường hô hấp gây nên, phổ biến nhất là Rhinovirus, Coronavirus và Parainfulenzavirus. [[{"fid":"1821","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"332","width":"500","class":"media-element file-default"}}]] Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng để phòng bệnh Biểu hiện của bệnh cúm Thời kỳ ủ bệnh của bệnh cúm thường ngắn (1-3 ngày). Khởi phát có đau rát họng, tiếp theo là nghẹt mũi, chảy nước mũi và có thể có hắt hơi (kéo dài vài, ba ngày). Cùng với đau rát họng là sốt cao (có thể muộn hơn một vài ngày), đau nhức toàn thân và ho. Bệnh thường kéo dài khoảng một tuần là lui bệnh (khỏi). Tuy vậy, bệnh cúm có thể gây nên một số biến chứng, thậm chí có thể gây tử vong. Biến chứng gì thường gặp nhất Đó là viêm phổi sau bệnh cúm, nhất là người có sức đề kháng kém (trẻ em, người cao tuổi, người suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch, phụ nữ mang thai, người mắc bệnh tim, bệnh phổi mạn tính như viêm phế quản mạn tính, COPD, hen suyễn, khí phế thũng...). Bên cạnh các biến chứng thường gặp, ở trẻ em (từ 2- 16 tuổi, sức yếu, ăn uống không đủ chất...) có thể bị mắc thêm bệnh Reye, là bệnh cực kỳ nguy hiểm. Bệnh có thể xảy ra vài ngày sau khi bị cúm (khi các triệu chứng của cúm đã giảm dần), bỗng chốc xuất hiện buồn nôn và nôn thực sự. Nếu không cấp cứu kịp thời, khoảng 1-2 ngày, trẻ có các triệu chứng ngộ độc thần kinh như lờ đờ hoặc mê sảng, hoặc co giật, dần dần bị hôn mê và có thể tử vong. Cần phân biệt bệnh cúm với bệnh cảm lạnh. Bệnh cảm lạnh thường sốt nhẹ, đau họng nhẹ, ho ít và thỉnh thoảng có hắt hơi và không kéo dài. Nếu không được điều trị đúng có thể dẫn đến viêm xoang hoặc viêm tai, tuy nhiên bệnh có thể tự khỏi. Điều trị và phòng bệnh Khi nghi bị cúm cần được xác định chắc chắn nguyên nhân gây bệnh, điều này sẽ diễn ra khi người bệnh được nhập viện kịp thời, nếu là do virút cúm, dùng thuốc kháng virút, đồng thời điều trị triệu chứng (giảm sốt, giảm ho…), nâng thể trạng và bù nước, chất điện giải bị mất do sốt. Cần phòng cho người khác bằng cách tự người bệnh đeo khẩu trang và cách ly với người lành, những người có nguy cơ cao mắc cúm do lây truyền cũng cần đeo khẩu trang và hạn chế  tiếp xúc với người bị cúm. Phòng bệnh tốt nhất là tiêm phòng vắc-xin cho mọi người, nhất là những người cao tuổi có bệnh mạn tính.   Theo Sức khỏe và đời sống  

PHÒNG NGỪA GIÃN TĨNH MẠCH THỰC QUẢN Ở NGƯỜI BỆNH GAN

Giãn tĩnh mạch thực quản là hội chứng hay gặp ở người bệnh xơ gan, chiếm tới 50%. Tỉ lệ tử vong của bệnh nhân bị vỡ giãn tĩnh mạch thực quản nếu có xơ gan khoảng 40 - 70%, tùy thuộc vào mức độ suy gan. Đây là biến chứng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa, các tĩnh mạch mở rộng ở phần dưới thực quản, ống nối cổ họng và dạ dày. Đa phần bệnh nhân phát hiện được do chảy máu tiêu hóa, nôn ra máu nhiều. Nếu không được xử lý kịp thời, bệnh nhân có thể tử vong. Nguyên nhân gây bệnh Nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch thực quản chính là nguyên nhân làm tăng áp tĩnh mạch cửa, bao gồm: Tắc trước xoang: Do chèn ép từ các nhánh lớn tĩnh mạch cửa trở ra hoặc chèn ép từ các nhánh nhỏ tĩnh mạch cửa (tiểu thùy) trở lên; Tắc lại xoang; Tắc sau xoang: Tắc trong gan do chèn ép tĩnh mạch trên gan nhỏ (tiểu thùy), phổ biến là do xơ gan. Tắc ngoài gan do chèn ép tĩnh mạch trên gan trở lên; Tăng áp tĩnh mạch cửa không do tắc mà do luồng máu đến nhiều hoặc tăng áp tĩnh mạch cửa không rõ nguyên nhân (bệnh banti). Giãn tĩnh mạch thực quản (varices) là bất thường, các tĩnh mạch mở rộng ở phần dưới của thực quản - ống nối cổ họng và dạ dày. Giãn tĩnh mạch thực quản xảy ra thường xuyên nhất ở những người bị bệnh gan nghiêm trọng. Thực quản varices phát triển khi bình thường lưu lượng máu đến gan chậm lại. Máu sau đó tràn vào các mạch máu gần đó nhỏ hơn, chẳng hạn như trong thực quản, gây ra các mạch sưng lên. Đôi khi giãn tĩnh mạch thực quản có thể vỡ, gây chảy máu đe dọa tính mạng. [[{"fid":"1817","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","link_text":null,"attributes":{"height":"242","width":"479","style":"width: 500px; height: 253px;","class":"media-element file-default"}}]] Thận trọng ở những bệnh nhân xơ gan Bệnh sẽ không có biểu hiện rõ rệt nếu bệnh nhân không bị đi ngoài, nôn ra máu. Tuy nhiên, biến chứng hay gặp nhất là bệnh nhân có thể bị tái phát hiện tượng chảy máu... Các dấu hiệu và triệu chứng của chảy máu thực quản varices bao gồm: Nôn ra máu; Màu đen, hắc ín hoặc phân có máu; Shock trong trường hợp nghiêm trọng. Thực quản varices là điển hình thường xuyên nhất của biến chứng xơ gan. Các bệnh và điều kiện khác cũng có thể gây varices thực quản như: Sẹo gan nặng (xơ gan). Một số bệnh gan có thể dẫn đến xơ gan như nhiễm trùng viêm gan, bệnh gan do rượu và một chứng rối loạn đường mật gọi là xơ gan đường mật; Máu đông (huyết khối). Một cục máu đông trong các tĩnh mạch cửa hoặc trong một tĩnh mạch có nguồn cấp vào trong tĩnh mạch cửa được gọi là các tĩnh mạch lách có thể gây ra varices thực quản; Nhiễm ký sinh trùng có thể gây hại cho gan cũng như phổi, ruột và bàng quang; Hội chứng gây ra máu trở lại trong gan… Chính vì vậy, những người mắc bệnh xơ gan cần thăm khám bác sĩ thường xuyên để phát hiện bệnh. Nếu đã được chẩn đoán với varices thực quản, bác sĩ có thể hướng dẫn phải thận trọng với những dấu hiệu chảy máu. Điều này cần thận trọng vì có thể dẫn đến tử vong. Điều trị thế nào? Mục tiêu chủ yếu trong điều trị varices thực quản là để ngăn chặn chảy máu. Chảy máu thực quản varices là đe dọa tính mạng. Nếu chảy máu xảy ra, phương pháp điều trị có sẵn để cố gắng cầm máu. Nếu bệnh nhẹ, có thể điều trị nội khoa nhưng khi đã xuất hiện chảu máu thì dùng thuốc đơn thuần và một số thuốc dự phòng vỡ tĩnh mạch thực quản thắt tĩnh mạch thực quản thì hiệu quả chưa cao. Đa số những người này cần được phẫu thuật. Varices chảy máu là đe dọa tính mạng và ngay lập tức điều trị là cần thiết: Sử dụng dải đàn hồi để buộc chảy máu tĩnh mạch; Tiêm một vào tĩnh mạch chảy máu; Các loại thuốc để làm chậm dòng chảy của máu vào tĩnh mạch cửa hoặc chuyển hướng lưu lượng máu đi từ tĩnh mạch cửa… Duy trì lối sống lành mạnh để phòng bệnh Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh gan, có thể lo lắng về nguy cơ biến chứng nặng hơn. Hãy hỏi bác sĩ về các chiến lược để tránh biến chứng bệnh gan. Nó có thể giúp đỡ để thực hiện các bước để giữ gan càng khỏe mạnh càng tốt, chẳng hạn như: Không uống rượu (vì uống rượu có thể căng thẳng gan đã bị tổn thương); Chọn một chế độ ăn uống thực vật đầy đủ các loại trái cây và rau quả; Chọn toàn bộ ngũ cốc và các nguồn protein nạc; Giảm lượng thức ăn béo và chiên; Duy trì một trọng lượng khỏe mạnh. Cẩn thận khi dùng hóa chất trong sinh hoạt như hóa chất gia dụng, thuốc xịt côn trùng… Bảo vệ bản thân bằng cách tiêm vắc-xin phòng viêm gan và sử dụng bao cao su khi sinh hoạt tình dục.   Theo Sức khỏe và đời sống

NGUY CƠ TỪ VIỆC LẠM DỤNG RƯỢU, BIA TRONG DỊP TẾT

Tình trạng ngộ độc rượu đang có chiều hướng gia tăng do việc sử dụng rượu trong sinh hoạt hàng ngày của người dân khá phổ biến và tăng mạnh vào dịp lễ, tết. Đã từ lâu, rượu, bia được coi là đồ uống không thể thiếu trong mỗi dịp liên hoan, cưới hỏi,... đặc biệt là trong dịp Tết và lễ hội. Những ngày trước, trong và sau Tết, lượng rượu, bia tiêu thụ nhiều hơn, cùng với đó là số người nhập viện do các bệnh về tiêu hóa, tăng huyết áp, tim mạch, chấn thương liên quan đến sử dụng rượu bia; đặc biệt là tình trạng ngộ độc rượu cũng cao hơn so với ngày thường. Ngộ độc rượu xảy ra khi uống quá mức đáp ứng của cơ thể, kể cả với những sản phẩm đã được xác nhận an toàn thực phẩm. Có hai loại ngộ độc rượu thường gặp, đó là ngộ độc ethanol (rượu thông thường) và ngộ độc methanol (cồn công nghiệp). Với ngộ độc ethanol ở dạng cấp tính, ban đầu người bệnh có dấu hiệu kích thích như: nói nhiều, mất kiểm soát hành vi, lời nói, đau bụng, nôn mửa,… Còn ở dạng mạn tính do uống rượu kéo dài dẫn đến sút cân, chán ăn, đi ngoài do tổn thương gan và ruột, da xanh tái do thiếu máu, thoái hoá gan, xơ gan, ung thư gan, mất trí nhớ, rối loạn tâm thần. Với ngộ độc methanol, là chất độc cực mạnh, chỉ cần uống từ 5-15ml có thể gây ngộ độc nặng, hôn mê, hạ đường huyết, hạ thân nhiệt, rối loạn chuyển hóa, suy hô hấp cấp tính và tử vong. Phụ nữ mang thai uống nhiều rượu có thể gây sinh non, ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ của đứa trẻ, gây ngộ độc cho thai nhi. [[{"fid":"1815","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 303px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Để hạn chế những nguy cơ từ việc lạm dụng rượu, người dân cần lưu ý: - Hạn chế sử dụng rượu. Không sử dụng rượu không rõ nguồn gốc xuất xứ, không sử dụng các loại rượu không được phép lưu hành chính thức. - Không uống rượu nồng độ từ 30 độ trở lên vượt quá 30ml/người/ngày. - Không uống rượu ngâm với lá, rễ cây, phủ tạng động vật không rõ độc tính hay rượu ngâm theo kinh nghiệm dân gian. - Trẻ em dưới 16 tuổi, người cao tuổi và người đang bị bệnh tuyệt đối không được uống rượu. - Khi người uống rượu có các biểu hiện đau đầu, chóng mặt, ngủ lịm, hôn mê, co giật… cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được xử trí, điều trị kịp thời.

PHÌNH TÁCH ĐỘNG MẠCH CHỦ

Phình tách động mạch chủ là tình trạng bệnh lý của thành động mạch chủ khi thành mạch bị giãn và/hoặc tách ra dẫn đến tiến triển dần yếu, mỏng dẫn tới nguy cơ vỡ do áp lực của mạch máu. Đây là bệnh lý nguy hiểm vì nguy cơ vỡ động mạch chủ gây chảy máu ồ ạt, trụy mạch, sốc và tử vong nhanh chóng. Triệu chứng của bệnh Phình động mạch chủ (ĐMC) ở giai đoạn đầu thường không có triệu chứng nên hầu hết chỉ được phát hiện khi túi phình đã lớn, bệnh nhân tự sờ thấy hoặc phát hiện vô tình qua siêu âm bụng khi thăm khám một bệnh lý khác. Đối với những túi phình có đường kính lớn hơn 5cm thì tỷ lệ tử vong do vỡ hoặc bóc tách ĐMC khoảng 15,6%/năm. Khi ĐMC vỡ, tỷ lệ tử vong lên đến 97 - 100% dù được can thiệp một cách tích cực. Do đó, người bệnh cần can thiệp ngoại khoa khi đường kính túi phình lớn hơn 5cm. Với bệnh lý tách thành ĐMC, thường là hậu quả của tăng huyết áp, xơ vữa gây loét thành ĐMC hoặc chấn thương ĐMC. Khi mắc, người bệnh thường có triệu chứng đau dữ dội vùng ngực và lan xuống dọc sống lưng. Khi có thiếu máu các tổ chức nội tạng hoặc có dấu hiệu dọa vỡ hay vỡ thì bệnh nhân cần được can thiệp hoặc phẫu thuật cấp cứu. Trong trường hợp đã vỡ, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 95-100% dù được xử trí kịp thời. [[{"fid":"1777","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 511px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Nguyên nhân gây bệnh Phình tách ĐMC là căn bệnh rất nguy hiểm, để lại biến chứng nặng, thậm chí có thể gây đột tử mà nguyên nhân hàng đầu là do tăng huyết áp không được kiểm soát tốt. Vì vậy, để phòng bệnh, cần theo dõi huyết áp, nhất là ở những người bệnh tăng huyết áp. Ngoài ra, cần chú ý đến chế độ dinh dưỡng hợp lý, tập thể dục đều đặn, bỏ thuốc lá, tránh căng thẳng, bức xúc nhiều... Phương pháp điều trị bệnh Nếu bệnh nặng, ngay lập tức được chỉ định bằng phương pháp phẫu thuật (thay đoạn mạch bị phình tách bằng một mạch nhân tạo). Tuy nhiên, phương pháp này có thể có khá nhiều biến chứng như chảy máu, nhiễm khuẩn, tổn thương thận và ruột.... Hiện nay, kỹ thuật đặt stent graft vào ĐMC (một giá đỡ được làm bằng kim loại đặc biệt) qua ống thông trong lòng mạch đi đến vị trí thành ĐMC bị yếu (nơi bị phình tách). Tại đây, stent graft sẽ như một hàng rào vững chắc bảo vệ thành ĐMC, giảm nguy cơ bị vỡ ĐMC mà không cần phẫu thuật giúp người bệnh tránh một cuộc mổ lớn, hồi phục nhanh, ít đau, rút ngắn thời gian nằm viện và không cần sự trợ giúp của máy tuần hoàn ngoài cơ thể đối với phình tách ĐMC ở ngực. So với phương pháp mổ truyền thống, kỹ thuật đặt stent graft vào ĐMC đã mở ra nhiều cơ hội cho những bệnh nhân mắc căn bệnh hiểm nghèo liên quan đến tim,  giúp giảm biến chứng và bệnh nhân chỉ phải nằm viện trong thời gian ngắn. Kỹ thuật đặt stent graft mở ra triển vọng mới để điều trị cho các bệnh nhân bị phình tách ĐMC ngay ở trong nước với chi phí thấp hơn nhiều (khoảng 150 - 400 triệu đồng) so với ra nước ngoài (khoảng 30.000 - 50.000 USD, chưa kể chi phí đi lại của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân). Mặt khác, đây là một bệnh lý rất nặng, nguy cơ tử vong sẽ rất cao nếu phải di chuyển xa ra nước ngoài.   Theo Sức khỏe và Đời sống

HẠ CANXI MÁU CÓ NGUY HIỂM?

Hạ canxi máu là hiện tượng thường gặp ở những đối tượng thiếu canxi như suy dinh dưỡng, ăn uống không đủ canxi, mắc các bệnh lý tuyến giáp, suy thận... Nếu không được điều trị kịp thời, hạ canxi máu có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Triệu chứng của cơn hạ canxi máu Trong cơ thể người, canxi tham gia vào quá trình co cơ, đặc biệt là cơ tim, các cơ trơn ở phế quản phổi. Vì vậy, khi bị hạ canxi máu, người bệnh sẽ có biểu hiện co thắt các cơ như: đột ngột thấy tê đầu chi, lưỡi; thở nhanh, kích thích, hoảng hốt, chuột rút các bắp chân; co cứng không chủ động các đầu chi khiến cho bàn tay co quắp, mỗi cơn có thể kéo dài từ vài phút đến hàng giờ. Trong nhiều trường hợp, khi cơn hạ canxi máu xảy ra khiến cho bệnh nhân hoảng sợ, kích thích thở nhanh càng làm cho tình trạng nặng hơn. Các cơ co thắt cũng có thể gây nên triệu chứng đau bụng, nôn mửa và nguy hiểm nhất là co thắt thanh quản khiến cho bệnh nhân bị suy hô hấp và loạn nhịp tim nếu lượng canxi máu xuống quá thấp, có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời. [[{"fid":"1775","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 313px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Cần bổ sung các thực phẩm giàu canxi như sữa, tôm, cá nhỏ... để phòng ngừa hạ canxi máu Điều trị và phòng ngừa Việc chẩn đoán bệnh nhân bị cơn hạ canxi máu chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và làm xét nghiệm thấy có canxi máu giảm. Bệnh nhân sẽ được bổ sung canxi kịp thời, triệu chứng hết nhanh sau khi lượng canxi được bù đủ. Có thể cải thiện và phòng ngừa hạ canxi máu bằng cách bổ sung canxi cho những đối tượng có nguy cơ cao bị thiếu canxi như: bệnh nhân đã bị phẫu thuật cắt bỏ hết tuyến cận giáp, người đang dùng thuốc lợi tiểu... Người bình thường cần chú ý cung cấp canxi cho cơ thể qua thực phẩm sử dụng hàng ngày như: Sữa và chế phẩm sữa, cá nhỏ nguyên xương, cua đồng, tôm tép... Trong đó, canxi trong sữa dễ hấp thu hơn là từ các nguồn thực phẩm khác. Không nên ăn quá nhiều đạm, đặc biệt là đạm động vật hoặc nhiều muối có thể gây ra hiện tượng tăng thải và mất canxi qua nước tiểu. Đối với phụ nữ mang thai và trẻ đang trong độ tuổi phát triển, do nhu cầu canxi tăng nên ngoài việc ăn các thực phẩm giàu canxi có thể uống bổ sung canxi theo đúng chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, mỗi ngày nên dành ít nhất 20-30 phút để tắm nắng vào buổi sáng sẽ giúp cơ thể hấp thu vitamin D, từ đó giúp tăng hấp thu canxi trong cơ thể.   Theo Sức khỏe và đời sống  

BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH: NHỮNG BIẾN CHỨNG ĐE DỌA TÍNH MẠNG

Theo số liệu của tổ chức Y tế thế giới (WHO), bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) hiện đang ảnh hưởng đến khoảng 329 triệu người, chiếm 5% dân số thế giới và là nguyên nhân thứ ba gây tử vong với số người chết vì căn bệnh này lên tới hơn 3 triệu mỗi năm. Ngoài những đợt cấp là nguyên nhân khiến cho bệnh nhân COPD phải nhập viện, bệnh còn gây nhiều biến chứng nguy hiểm với chi phí điều trị lớn mà hiệu quả điều trị không cao. Những biến chứng đe doạ tính mạng Bệnh COPD gây nhiều biến chứng nặng nề tại phổi và ngoài phổi. Tràn khí màng phổi (TKMP) có lẽ là biến chứng thường gặp nhất và phải luôn cảnh giác ở bất cứ bệnh nhân COPD nào. Ở bệnh nhân COPD, sự tắc nghẽn đường dẫn khí kéo dài dẫn đến hiện tượng “bẫy khí” hay lượng khí hít vào phế nang không được thở ra hết nên lượng khí tích lại dần làm căng giãn các phế nang tạo ra hiện tượng khí phế thũng. Các phế nang căng giãn lâu ngày mỏng ra và dễ dàng vỡ vào khoang màng phổi gây TKMP. Khi đó, bệnh nhân thấy đột ngột đau ngực bên tràn khí, khó thở tăng, khám phổi thấy có dấu hiệu rì rào phế nang mất, rung thanh giảm hoặc mất và gõ lồng ngực vang hơn bên không có tràn khí. Có trường hợp tràn khí áp lực dương hay tràn khí màng phổi có van, lượng khí ra khoang màng phổi theo một chiều nên nhanh chóng tăng áp lực đẩy xẹp phổi, suy hô hấp nặng và có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Tràn khí dưới da cũng là một dấu hiệu đặc hiệu cho TKMP. Chẩn đoán bệnh nhân TKMP ở bệnh nhân bệnh COPD thường không có gì khó khăn khi có dấu hiệu lâm sàng rõ và cho bệnh nhân chụp thêm Xquang tim phổi. Việc điều trị TKMP ở đối tượng bệnh nhân này luôn khó khăn do phế nang đã dãn nhiều, việc hút dẫn lưu khí phải kiên nhẫn và đúng phương pháp. Nhiều trường hợp phải gây dính khoang màng phổi để điều trị. [[{"fid":"1773","view_mode":"default","fields":{"format":"default","field_file_image_alt_text[und][0][value]":"","field_file_image_title_text[und][0][value]":""},"type":"media","attributes":{"style":"width: 500px; height: 258px;","class":"media-element file-default"},"link_text":null}]] Đường thở bị thu hẹp trong bệnh COPD Tăng áp lực động mạch phổi: Khi phế nang giãn nhiều sẽ gây chèn ép vào các mao mạch phổi dẫn đến tăng áp lực động mạch phổi (ĐMP). Thêm nữa, một tình trạng thiếu oxy liên tục cũng là nguyên nhân gây co thắt các tiểu động mạch và làm tăng áp lực ĐMP. Xác định bệnh nhân có tăng áp ĐMP dựa vào khám lâm sàng thấy có tiếng tim thứ hai đánh mạnh, tách đôi nghe ở ổ van ĐMP và siêu âm doppler tim. Tăng áp ĐMP khiến cho bệnh nhân khó thở hơn và làm tiên lượng bệnh nhân COPD xấu hơn. Điều trị tăng áp lực ĐMP bao gồm cho bệnh nhân uống các thuốc chẹn canxi, xịt các thuốc giãn mạch và điều trị tốt các đợt cấp của COPD. Suy tim phải:  Khi áp lực ĐMP tăng cao cộng với một tình trạng thiếu oxy mạn tính sẽ dẫn tới suy tim phải. Suy tim phải là một biến chứng kèm theo “như hình với bóng” ở bệnh nhân COPD. Các dấu hiệu của suy tim phải bao gồm dấu hiệu tâm thất phải đập ở vùng mũi ức, gan to, tĩnh mạch cổ nổi và phù hai chi dưới. Bệnh nhân COPD có suy tim phải sẽ được gọi là “tâm phế mạn” và việc điều trị sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Loạn nhịp tim, đặc biệt là rung nhĩ cũng rất hay gặp ở bệnh nhân đợt cấp COPD. Nguyên nhân chủ yếu của rung nhĩ là do thiếu oxy cơ tim, do suy tim hoặc rối loạn điện giải, là các tình trạng hay gặp ở bệnh nhân này. Rung nhĩ làm bệnh nhân khó thở hơn trong các đợt cấp và có thể có nguy cơ tắc mạch não do huyết khối tâm nhĩ trái. Bên cạnh rung nhĩ, các loạn nhịp tim khác như cơn nhịp nhanh nhĩ đa ổ, ngoại tâm thu các loại… cũng có thể gặp ở bệnh nhân COPD. Đa hồng cầu: là biến chứng thường có do tình trạng thiếu oxy liên tục ở bệnh nhân COPD. Lượng hồng cầu gia tăng trong trường hợp này giống như cơ chế tăng hồng cầu ở người sống tại các vùng núi cao do không khí loãng, thiếu oxy – sự gia tăng hồng cầu phản ứng. Số lượng hồng cầu tăng quá cao làm tăng nguy cơ tắc mạch và huyết khối ở bệnh nhân COPD. Biến chứng thần kinh: Các biến chứng thần kinh hay gặp là đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, rối loạn ý thức. Các triệu chứng này là do tình trạng thiếu oxy máu và tăng CO2 mạn tính trong máu. Có nhiều trường hợp lượng CO2 tăng quá cao làm bệnh nhân hôn mê. Người bệnh COPD thường mất tập trung, mau quên, giảm hoặc mất khả năng làm việc trí óc. Một số biến chứng khác có thể gặp là tình trạng tăng nồng độ men chuyển angiotensin trong máu, ho nhiều, suy kiệt, rối loạn nước điện giải và thăng bằng kiềm toan ở các mức độ khác nhau. Các biến chứng này luôn góp phần làm xấu thêm tình trạng bệnh lý tắc nghẽn sẵn có. Có cách nào phòng ngừa? Người bệnh COPD phải dùng thuốc theo đúng chỉ định, không được tự ý thêm bớt; không lạm dụng thở oxy khi người bệnh không thực sự khó thở; tránh những thay đổi đột ngột tới người bệnh như thay đổi thời tiết, thay đổi cảm xúc – tâm lý; dự phòng nhiễm khuẩn phổi; dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý; đảm bảo đủ lượng nước; tránh các bệnh đường tiêu hóa như táo bón, tiêu chảy; người bệnh cần thư giãn hoặc tập luyện nhẹ nhàng nếu có thể. Vì bệnh có liên quan trực tiếp đến việc hút thuốc lá và các yếu tố trong môi trường bị ô nhiễm nên người bệnh tuyệt đối không hút thuốc lá, thuốc lào, tránh khói thuốc và khói bụi; Cuối cùng, biết cách phát hiện những dấu hiệu của đợt cấp COPD để khẩn trương đưa người bệnh vào viện.. Theo Sức khỏe và đời sống

Trang